- Chính sách cạnh tranh
v.v
3.1.2/ Các chính sách xã hội
Chính sách xã hội là những chính sách điều tiết các mối quan hệ xã hội,
làm cho xã hội phát triển theo hướng công bằng và văn minh. Các chính sách
xã hội cơ bản bao gồm:
- Chính sách lao động và việc làm
- Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Chính sách bảo đảm xã hội
v.v
Nhà nước ta rất coi trọng các chính sách xã hội, bởi vì xét cho cùng sự
phát triển kinh tế là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con
người.
3.1.3/ Các chính sách văn hoá
Chính sách văn hóa là những chính sách nhằm phát triển nền văn hoá với
tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội. Các
chính sách văn hoá cơ bản là:
- Chính sách giáo dục và đào tạo.
- Chính sách phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ.
- Chính sách văn hoá thông tin.
- Chính sách bảo tồn và phát huy di sản và truyền thống dân tộc
v.v
3.1.4/Chính sách đối ngoại
Chính sách đối ngoại là những chính sách điều tiết các mối quan hệ đối
ngoại của một đất nước với các quốc gia trên thế giới. Đây là bộ phận chính
sách rất quan trọng vì trong điều kiện thế giới đang ở xu thế tăng cường mở
cửa và hội nhập, nếu một quốc gia không có những quyết sách đối ngoại đúng
đắn thì sẽ bị cô lập và tụt hậu.
3.1.5/ Chính sách an ninh, quốc phòng
Bao gồm các chính sách an ninh và các chính sách quốc phòng. Đó là
những chính sách hướng vào việc tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh
5
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước.
3.2/ Theo phạm vi ảnh hưởng của chính sách
Căn cứ vào quy mô tác động, có thể phân chia chính sách kinh tế - xã hội
thành các loại:
- Chính sách vĩ mô: là những chính sách được xây dựng nhằm vận hành
nền kinh tế quốc dân, có tác động đến những cân đối tổng thể (vĩ mô) của nền
kinh tế - xã hội, chi phối nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và
lợi ích của đông đảo nhân dân. Các chính sách vĩ mô thường có hiệu lực thi
hành trên phạm vi cả nước. Ví dụ: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ -
tín dụng, chính sách phân phối, chính sách kinh tế đối ngoại được coi là chính
sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất.
- Chính sách trung mô: Là những chính sách có quy mô tác động lên
những bộ phận hay phân hệ của xã hội. Ví dụ như chính sách điều tiết cơ cấu
của một ngành kinh tế, chính sách phát triển cơ cấu thành phần kinh tế, chính
sách phát triển vùng v.v
- Chính sách vi mô: là những chính sách tác động lên những chủ thể kinh
tế - xã hội cụ thể như các đơn vị cơ sở hay một nhóm người riêng biệt trong
xã hội. Các chính sách vi mô bao gồm chính sách tài chính doanh nghiệp,
chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách thi tuyển công chức v.v Ngay
những chính sách như chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp cũng
có thể được coi là chính sách vi mô vì điều tiết hoạt động của các doanh
nghiệp, các hội các cá nhân.
Tuy nhiên, mọi sự phân loại chỉ là tương đối. Chẳng hạn, có quan điểm
cho rằng các chính sách ngành vừa là chính sách trung mô, vừa là chính sách
vi mô.
3.3/ Theo thời gian phát huy hiệu lực
Căn cứ vào thời gian phát huy hiệu lực sẽ có các loại chính sách kinh tế -
xã hội như sau:
- Chính sách dài hạn: Là những chính sách được áp dụng lâu dài nhằm
thực hiện những mục tiêu chiến lược, dài hạn của đất nước. Một trong những
chính sách dài hạn do nhà nước ta đề ra là chính sách phát triển các thành
6
phần kinh tế. Chính sách này có tác dụng khuyến khích các thành phần kinh tế
phát triển, yên tâm đầu tư mọi nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh lâu
dài, làm giàu cho mình và cho đất nước.
- Chính sách trung hạn: là những chính sách công có hiệu lực trong
khoảng thời gian từ ba đến bảy năm. Những chính sách này tập trung vào
những vấn đề có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội, nhưng
có thể giải quyết được trong một thời gian nhất định.Những chính sách loại
này có thể là chính sách chống lạm phát, chính sách xoá đói giảm nghèo,
chính sách chống suy thoái kinh tế v.v
- Chính sách ngắn hạn: là những chính sách được áp dụng trong khoảng
thời gian không lâu (dưới ba năm) nhằm vào những vấn đề có thể giải quyết
tương đối nhanh chóng. Các chính sách ngắn hạn có thể là chính sách ổn định
tỷ giá hối đoái, chính sách kiểm soát chặt chẽ các ngân hàng cổ phần, chính
sách áp dụng mức giá trần đối với thu mua nông sản phục vụ xuất khẩu v.v
3.4/ Theo cấp độ của chính sách
Phụ thuộc vào chủ thể quyết định chính sách có thể có những loại chính
sách kinh tế - xã hội như:
- Chính sách quốc gia do quốc hội ra quyết định.
- Chính sách của chính phủ.
- Chính sách của địa phương do chính quyền địa phương (hội đồng nhân
dân và uỷ ban nhân dân) quyết định.
Thông qua việc nghiên cứu hệ thống chính sách kinh tế - xã hội theo các
tiêu chí khác nhau có thể rút ra một số nhận xét:
Một là, để quản lý xã hội, nhà nước cần xây dựng nhiều chính sách kinh tế
- xã hội khác nhau, nhưng tất cả các chính sách đó phải tạo thành một chỉnh
thể thống nhất, bao trùm tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, hướng tới việc
thực hiện mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Hai là, mỗi chinh sách đều có mối liên hệ với các chính sách khác, đều có
ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu của các chính sách khác và mục tiêu chung
của xã hội.
7
Ba là, hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội có cấu trúc rất đa dạng và
lồng ghép vào nhau.
Chương II
TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH KINH TẾ XÃ HỘI
1/ khái niệm về tổ chức thực thi chính sách kinh tế - xã hội
Sau khi chính sách kinh tế - xã hội được hoạch định, chính sách đó cần
được thực thi trong cuộc sống. Đây là giai đoạn thứ hai trong cả quá trình
chính sách sau giai đoạn hoạch định, nhằm biến chính sách thành những hoạt
động và kết quả trên thực tế.
Các cơ quan nhà nước, trước hết là bộ máy hành chính là người chủ yếu
hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, cũng đồng thời là người tổ chức thực
thi chính sách.
Như vậy, tổ chức thực thi chính sách kinh tế - xã hội là quá trình biến các
chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động tổ chức
trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã
đề ra.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách kinh tế - xã hội
Việc đưa các chính sách kinh tế xã hội đi vào thực tiễn không phải là đơn
giản, nhanh chóng. Trên thực tế đó là một quá trình phức tạp, đầy biến động,
chịu tác động của một loạt các yếu tố, làm thúc đẩy hoặc cản trở kết quả thực
thi. Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách kinh tế
- xã hội thành 2 nhóm.
2.1 Các yếu tố khách quan
2.1.1 Bản chất của vấn đề cần giải quyết
Như đã biết, chính sách được đề ra nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh
trong kinh tế - xã hội. Vì vậy bản chất của các vấn đề cần giải quyết sẽ tác
động bằng nhiều cách đến quá trình thực hiện chính sách đó.
8
Nếu chính sách nhằm giải quyết một vấn đề công phức tạp, có liên quan
đến nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau (ví dụ vấn đề lạm phát, vấn đề thất
nghiệp v.v ) hoặc một vấn đề có nguyên nhân đa dạng (ví dụ vấn đề xuống
cấp giáo dục, vấn đề ô nhiễm môi trường v.v ) thì quá trình thực hiện chính
sách đó cũng thường khó khăn, phức tạp đòi hỏi mất nhiều thời gian và công
sức, vì phải phối hợp với nhiều chính sách và thực hiện một loạt các quyết
định có liên quan với nhau.
Đặc thù của các nhóm đối tượng mà chính sách tác động đến cũng có ảnh
hưởng đến việc thực hiện chính sách đó. Chẳng hạn đối tượng của chính sách
dân số và kế hoạch hoá gia đình trước hết là các gia đình nghèo, đông con, đẻ
nhiều và các gia đình nông dân (90% dân số nước ta sống ở nông thôn). Đây
là nhóm người thường bị hạn chế về trình độ nhận thức và hiểu biết cũng như
về mức sống vật chất, tinh thần, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của nếp nghĩ
phong kiến (trọng nam khinh nữ, cần có con trai “nối dõi tông đường” ). Do
đó việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình ở nước ta không
dễ, đòi hỏi phải thay đổi nhận thứ và hành vi của con người vốn đã trở thành
tập quán từ bao đời, đồng thời phải kết hợp với việc thực hiện chính sách xoá
đói giảm nghèo, chính sách giáo dục đào tạo, chính sách phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn v.v
2.1.2 Bối cảnh thực tế
Bối cảnh thực tế, có thể là bối cảnh xã hội, kinh tế, công nghiệp và chính
trị, có tác động lớn đến việc thực thi chính sách công.
- Bối cảnh xã hội: Những thay đổi về điều kiện xã hội có thể tác động
đến cách lý giải vấn đề và vì vậy đến cách thực hiện chính sách. Nói chung xã
hội càng văn minh hiện đại, nhận thức của con người càng tiến bộ, trình độ
dân trí càng cao thì càng thuận lợi cho việc thực thi chính sách và luật pháp
Nhà nước. Chẳng hạn xu hướng dân chủ hoá hiện nay đòi hỏi chính sách công
phải được phổ biến và tranh thủ sự hưởng ứng của nhân dân, đòi hỏi nhà nước
phải thu hút sự tham gia và sự kiểm tra của quần chúng, của các tổ chức đoàn
thể và các tổ chức phi chính phủ đối với quá trình thực thi chính sách công.
- Bối cảnh kinh tế: Những thay đổi về điều kiện kinh tế có tác động
tương tự đối với việc thực thi chính sách. Kinh tế tăng trưởng cao thì chính
phủ sẽ bớt khó khăn hơn trong việc thực thi các chính sách công, nhất là các
chính sách bảo trợ xã hội. Ví dụ việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo
đối với Việt Nam hiện nay là rất cấp bách, nhưng nó sẽ thay đổi khi đời sống
9
nhân dân được nâng cao, khi nền kinh tế phát triển hơn, tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân phát triển.
- Bối cảnh công nghệ: Công nghệ mới có thể gây ra những thay đổi trong
việc thực thi chính sách. Chẳng hạn sự phát triển của tin học, sinh học và việc
áp dụng các công nghệ hiện đại hỗ trợ cho việc tổ chức thực hiện giáo dục từ
xa hoặc cho việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình v.v
- Bối cảnh chính trị: Những biến động trong bối cảnh chính trị có tác
động tới quá trình thực thi chính sách. Một đất nước mà tình hình chính trị rối
ren không ổn định (nhiều phe phái, đảo chính, nội chiến ) thì tất yếu gặp
khó khăn trong quá trình thực thi chính sách. Việc thay đổi Chính phủ có thể
dẫn đến những thay đổi về cách thực thi các chính sách công trong khi không
thay đổi bản thân chính sách công.
- Bối cảnh quốc tế: Cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, các
biến động kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực cũng như trên thế giới ngày
càng có tác động đáng kể đến việc thực thi một chính sách công của mỗi quốc
gia. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước trong khu vực
đã và đang ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tiền tệ, chính sách thu hút
đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Đôi khi, trong một vài lĩnh vực nhất định, những tác động từ bên ngoài
này lại có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách công. Đối
với những nước đang phát triển, trong điều kiện vốn trong nước thiếu, cần
phải huy động vốn nước ngoài và tận dụng các thành quả, các điều kiện, mà
thế giới tạo ra để có thể rút ngắn thời gian và tiến kịp các nước.
Trong xu thế quốc tế hoá mạnh mẽ đời sống kinh tế thế giới, hoạt động
ngoại thương không chỉ bù đắp được những thiếu hụt của nền kinh tế trong
nước, mà còn giúp cho nền kinh tế có vị trí của mình trong phân công lao
động quốc tế. Ngày nay, tình hình thế giới đòi hỏi các nước phải thực thi
chính sách kinh tế đối ngoại mở rộng, phải rất quan tâm đến vấn đề xuất khẩu
và có cơ cấu xuất nhập khẩu hợp lý.
2.1.3 Tiềm lực chính trị và kinh tế của các nhóm đối tượng chính sách
nói riêng và của dân chúng nói chung
10
Các nhóm có quyền lực (về kinh tế, tài chính, chính trị) chịu ảnh hưởng
của một chính sách công nào đó có thể tác động mạnh mẽ tới tiến trình thực
hiện chính sách công thông qua việc ủng hộ hoặc chống đối chính sách công
đó. Việc công chúng ủng hộ hoặc chống đối chính sách công cũng ảnh hưởng
đến việc thực hiện chính sách.
Khi dân giàu có, tiềm lực kinh tế, khả năng kinh tế của dân mạnh thì biện
pháp nhà nước và nhân dân cùng làm sẽ hiệu quả hơn và nhà nước có thể huy
động được sự đóng góp về chất xám và tiền của từ các tổ chức, các nhà khoa
học và từ dân cư trong việc thực hiện chính sách công.
2.2 Các yếu tố khách quan
2.2.1 Yếu tố giao tiếp truyền đạt
Việc giao tiếp - truyền đạt bao gồm công tác tuyền truyền, phổ biến, giáo
dục cho người thực thi về nội dung và yêu cầu của chính sách. Nếu quan hệ
giao tiếp không chọn vẹn thì hoạt động thực thi sẽ đi chệch hướng mà các nhà
hoạch định mong muốn. Một chính sách công ra đời mà các cơ quan liên quan
và các nhà chức trách không nắm rõ nội dung yêu cầu đề ra, người dân không
được biết đến hoặc hiểu sai đi thì sẽ hạn chế rất nhiều đến kết quả thực thi.
2.2.2 Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách kinh
tế - xã hội
Thành công của một chính sách kinh tế - xã hội phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng và sự hoạt động của cơ quan và cán bộ thực thi chính sách đó, thông
thường là các cơ quan trong bộ máy hành pháp - những người chủ yếu và trực
tiếp thực thi chính sách công. Nếu bộ máy hành chính quan liêu, hoạt động
kém hiệu lực và hiệu quả, nếu các cán bộ công chức thiếu năng lực, trách
nhiệm và sự trong sạch thì nó sẽ gây khó dễ cho việc thực hiện chính sách,
ngăn chặn không cho chính sách đó phát huy tác dụng trên thực tế, bóp méo
các mục tiêu của chính sách hoặc làm ngược lại hoàn toàn ý đồ của chính
sách đó. Như vậy một chính sách đề ra hợp lý nhưng nếu bộ máy và cán bộ tổ
chức thực thi kém năng lực và phẩm chất thì cũng sẽ không thực hiện được
hoặc thực hiện sai chính sách trên thực tế. Việc thực thi chính sách cũng phụ
thuộc vào sự phân công, phân nhiệm rõ ràng về nhiệm vụ, chức năng quyền
hạn, lợi ích của các cơ quan thực thi chính sách. Bên cạnh cơ quan chủ chốt
11
có trách nhiệm chính trong việc thực thi một chính sách nhất định, cần xác
định rõ các cơ quan phối hợp thực hiện chính sách để tạo ra một môi trường
đồng bộ và ăn khớp cho việc thực thi chính sách công. Nói chung nên hạn chế
ở mức ít nhất có thể số lượng cơ quan thực thi chủ yếu để đảm bảo tính hiệu
quả của chính sách.
2.2.3 Thủ tục hành chính
Để thực thi chính sách kinh tế - xã hội, các tổ chức liên quan lập ra những
quy chế và thủ tục cần thiết. Các thủ tục này tạo ra môi trường thực thi chính
sách, quy định những đòi hỏi và bước đi cần thiết trong việc thực thi chính
sách, tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động quản lý tối ưu.
Mỗi cơ quan có những quy định về thủ tục hành chính, mà các thủ tục này
sẽ tạo điều kiện cho việc thi hành chính sách được thuận lợi. Các thủ tục phải
có tính ổn định tương đối để không gây nhiều xáo trộn cho quá trình thực thi
chính sách công. Tuy nhiên, khi những thủ tục đã trở nên lỗi thời, kìm hãm
việc thực thi, thì cần phải thay thế bằng những thủ tục mới hợp lý và thuận
tiện hơn. Chẳng hạn, hiện nay ta đang tiến hành cải cách thủ tục hành chính
trong một số lĩnh vực: Cấp giấy phép đầu tư, đăng ký kinh doanh, xuất nhập
khẩu v.v là những lĩnh vực mà thủ tục hành chính còn rườm rà, gây cản trở
và những tiêu cực trong việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
2.2.4 Kinh phí thực thi chính sách công
Việc thực thi bất kỳ một chính sách công nào cũng đòi hỏi phải có một
nguồn kinh phí nhất định. Nguồn kinh phí để thực thi một chính sách công
của nhà nước thường do ngân sách nhà nước cấp, do các tổ chức xã hội và tư
nhân đóng góp, do huy động trong dân hoặc do nước ngoài tài trợ.
Trong quá trình thực thi, các tổ chức thực thi cần khai thác triệt để các
nguồn đầu tư, nhất là các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước. Ngày
nay, nhiều chính phủ trên thế giới chú trọng khai thác các nguồn lực trong
nhân dân nhằm giảm bớt chi phí ngân sách, nâng cao trách nhiệm cộng đồng
xã hội của dân cư. Các nước đang phát triển còn có thể và cần phải khai thác
các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế và các chính phủ khác.
Nguồn kinh phí này được chi dùng cho các nhu cầu sau:
- Chi phí xây dựng cơ sở vật chất cho việc thi hành chính sách.
12
- Mua sắm thiết bị vật tư, phương tiện kỹ thuật và các chi phí vật tư khác.
- Trả lương cho đội ngũ cán bộ quản lý, tổ chức và những người thực thi
chính sách.
- Chi phí bồi thường cho những người bị thiệt hại do việc thực thi chính
sách gây ra.
Nếu chúng ta không có hoặc không đủ kinh phí, thì không thể thực hiện
được chính sách công hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn dù cho chính
sách đó mang ý nghĩa xã hội to lớn.
Vì vậy, việc thực thi chính sách công phải đi liền với việc đảm bảo đủ
kinh phí. Ngay từ khi xây dựng và thông qua chính sách công cần phải dự tính
trước nguồn kinh phí về mặt số lượng cũng như các nguồn đầu tư.
Nguồn kinh phí cần được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra chặt chẽ và định kỳ xem xét việc
sử dụng kinh phí, đánh giá hiệu qủa kinh phí được giao.
2.2.5 Thái độ và hành động của nhân dân
Hồ Chủ Tịch đã từng dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần
dân liệu cũng xong”. Một chính sách công chỉ có thể thành công khi nó nhận
được thái độ và hành động ủng hộ, hưởng ứng của nhân dân. Nếu bản thân
chính sách đó không đem lại lợi ích cho đất nước và cho đa số nhân dân nếu
nhân dân chưa hiểu đúng ý đồ và lợi ích của chính sách đó, thì họ sẽ không
ủng hộ và không thực hiện chính sách.
Có thể nói, yếu tố có tính quyết định nhất là ở chỗ chính sách công tác
động như thế nào đến lợi ích của công chúng, sự tương quan giữa những
người có lợi và những người bị thiệt hại do thực thi chính sách công này. Nếu
chính sách đáp ứng đúng những đòi hỏi bức xúc của nhân dân thì nó sẽ được
duy trì và phát triển. Chẳng hạn như chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần đã được đông đảo công chúng hưởng ứng và thực hiện, vì nó đáp ứng
được lợi ích và nguyện vọng của người dân, phát huy mọi tiềm năng của nền
kinh tế tạo ra sức mạnh to lớn để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Một
chính sách như chính sách chống buôn lậu, chống tham nhũng, đương nhiên
sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của những kẻ buôn lậu, những kẻ tham nhũng,
nhưng nó lại được đa số nhân dân hưởng ứng, vì vậy tuy việc thực thi có thể
13
gặp một số khó khăn, song nó vẫn được mọi người ủng hộ. Nếu nhà nước có
những biện pháp kiên quyết cộng với sự ủng hộ này thì hoàn toàn có thể thực
hiện thành công những chính sách nói trên.
Các cơ quan thực thi có thể dùng biện pháp điều tra dư luận để chứng
minh cho việc có nên tiếp tục chính sách công đó hay không. Hoặc qua đó có
các thông tin phản hồi làm căn cứ cho việc điều chỉnh chính sách.
Ngoài các yếu tố trên, bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc cũng có
ảnh hưởng đến việc thực thi các chính sách công.
Do chịu tác động của một loạt những yếu tố nói trên, trong quá trình thực
thi chính sách công, có thể nảy sinh các dạng khó khăn như:
- Việc duy trì và thực thi chính sách kinh tế xã hội phụ thuộc vào chính
trị, là lĩnh vực vốn rất nhạy cảm, có liên quan tới khả năng từ bỏ hoặc đảo
ngược quá trình thực thi một chính sách nào đó. Chẳng hạn Việt Nam đang
thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính sách tăng cường
hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, kinh tế quốc phòng,
chính sách gửi cán bộ và học sinh đi đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài v.v
Nhưng nếu quan hệ chính trị giữa hai nhà nước và hai chính phủ mà xấu đi thì
có thể dẫn đến sự khó khăn, chậm trễ hoặc thậm chí dẫn đến sự phá sản trong
việc thực hiện những chính sách nói trên.
- Những người thực thi chính sách công, do nhiều lý do, trong đó có lý
do về năng lực không giải quyết được những đòi hỏi về thông tin và quản lý
hành chính mà chính sách đó tạo nên. Chẳng hạn có thể gặp các khó khăn
như: Các khoản thuế đề ra quá phức tạp và hay thay đổi nên khó có thể thực
hiện được một cách đúng đắn; những biện pháp kiểm soát giá toàn diện đòi
hỏi phải thu thập được một lượng thông tin rất lớn và có nhiều nhân lực để
quản lý và thi hành làm cho các cơ quan thực thi không đảm bảo nổi.
- Những người có trách nhiệm hoặc có ảnh hưởng tới việc thực thi một
biện pháp nào đó cố tình làm trái với mục tiêu đề ra của chính sách, vì họ thấy
chính sách đối lập lại với lợi ích của họ. Chẳng hạn chủ trương cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước động chạm đến chức quyền và thu nhập của một số
người quản lý doanh nghiệp hiện nay, vì vậy họ không tích cực thực hiện chủ
trương này.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét