Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Đặc điểm nhân cách của phạm nhân

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề nhân cách
Từ lâu, nhân cách đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học:
triết học, xã hội học, đạo đức học. Tuy nhiên, đối với khoa học tâm lý, từ cuối
thế kỉ thứ 19 cho đến nay, các nhà tâm lý học mới nghiên cứu nhiều về nhân
cách.
Trong tâm lý học phương tây, nhân cách được nghiên cứu trên cơ sở của
nhiều lý thuyết khác nhau với các đại diện: thuyết phân tâm (S. Freud), thuyết
đặc điểm nhân cách (Allport, Cattell, Esensk), thuyết hiện tượng (C. Rogers).
W. Stern đã viết tác phẩm “Bàn về tâm lý học khác biệt cá nhân” trong
đó, ông đã đưa ra khái niệm “person” để chỉ bất kì một thực thể nào có khả năng
tự xác định và tự phát triển trong thế giới vô cơ lẫn thế giới hữu cơ. Theo ông,
toàn bộ thế giới là một cơ chế có thứ bậc của các “person” có thuộc tính nhân
cách. Đó là những phẩm chất tích cực, cá biệt, có xu hướng và mục đích hoạt
động. W.Stern cho rằng, nhân cách như là một kiến tạo hoàn chỉnh của đời sống
tâm lý con người.
Học thuyết có ảnh hưởng to lớn trong các lĩnh vực đời sống xã hội
phương Tây là học thuyết phân tâm của S. Freud. Ông cho rằng, yếu tố sinh học
và vô thức quyết định việc hình thành nhân cách, coi đối tượng của tâm lý học
không phải là ý thức mà là vô thức, coi sự thoả mãn tình dục là động lực hoạt
động. Ông giải thích mọi hiện tượng xã hội, tệ nạn, chiến tranh đều do bản năng
tình dục gây ra.
Không đồng ý với chủ nghĩa sinh học trong học thuyết phân tâm của S.
Freud, một số cộng sự cũng như học trò của ông đã rời bỏ học thuyết Freud và
hình thành học thuyết phân tâm học mới phát triển theo nhiều hướng khác nhau:
Karl Jung, Erich Fromn.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lí thuyết đặc điểm nhân cách với các đại diện như: Cattell, Allport,
Esensk, mặc dù đi sâu vào những vấn đề khác nhau và đưa ra các quan điểm
khác nhau về nhân cách nhưng theo họ nhân cách con người đều có những nét
đặc trưng nhất. Các đặc trưng đó là nền tảng của nhân cách. Những nhà tâm lý
học này đều cho rằng, hành vi và nhân cách con người có thể được sắp xếp theo
trật tự trên dưới, trật tự này là thứ tự của các đặc điểm nhân cách. Tuy nhiên các
nghiên cứu đều còn coi nhẹ mặt thực tại xã hội của nhân cách.
Có những lý thuyết khác lại đề cao tính xã hội trong quan điểm về nhân
cách. Họ cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về
nhân cách con người, mà không hề tính đến vai trò của các yếu tố sinh học, như
thuyết siêu đẳng bù trừ (Adler), thuyết tương tác xã hội (G. H Mead), thuyết liên
nhân cách (R. Sears), thuyết hiện tượng ( C. Rogers)…
Gần đây, các nhà tâm lý học khác cũng đưa ra một số định nghĩa về nhân
cách. David G. Myers cho rằng, nhân cách là mô hình tư duy cảm xúc và hành
động mang đặc điểm của bản thân. Robert A. Baron lại nhận định nhân cách là
những hành vi, tư duy và cảm xúc có tính ổn định và đặc biệt của cá nhân…
Ở Liên Xô cũ trước đây, có nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu về nhân cách
như: Rubinstein, Lêônchiev, Ananiev, Platonov… Dựa trên quan điểm của triết
học Macxit và phương pháp luận duy vật biện chứng, các nhà tâm lý học đều có
sự thống nhất chung về phương pháp luận nghiên cứu.
Nhà tâm lý học xuất sắc Ananiev đã nghiên cứu nhân cách trên cơ sở
thâm nhập một cách hữu cơ các khoa học nghiên cứu về con người. Ông cho
rằng, muốn xây dựng khoa học nhân cách phải dựa trên các khoa học nghiên
cứu về con người. Theo Ananiev, nhân cách là cá thể có tính chất xã hội, là
khách thể và chủ thể của bước tiến lịch sử. Nhân cách không tồn tại ngoài xã
hội, không tồn tại ngoài lịch sử. Vì thế, nghiên cứu nhân cách phải nghiên cứu
lịch sử cá nhân, đồng thời phải gắn liền nhân cách với hoàn cảnh xã hội. Tác giả
đã lần lượt nghiên cứu nhân cách dưới bốn hướng tiếp cận: nghiên cứu nhân
cách phải nghiên cứu con người với tư cách là chủng loài, từ đó tìm ra các yếu
tố lý hoá tác động đến hoạt động sống của con người. Nghiên cứu nhân cách
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cũng cần nghiên cứu con người với tư cách là cá nhân và sự phát triển cá thể của
nó. Đồng thời nghiên cứu con người với tư cách là chủ thể, theo đó ông cho rằng
nhân cách là chủ thể và khách thể của quá trình lịch sử, của mối quan hệ xã hội.
Cuối cùng, nghiên cứu con người với tư cách là nhân cách và con đường sống
của nó; trong đó phải nghiên cứu xu hướng, tính cách, hành vi xã hội, động cơ
hành vi, cấu trúc nhân cách, vị thế nhân cách, con đường sống của nhân cách
trong xã hội.
Lêônchiev lại dựa vào thuyết hoạt động để nghiên cứu nhân cách. Tác giả
cho rằng, hoạt động là cơ sở của nhân cách. Vì thế, phải lấy hoạt động để phân
tích kiến giải hiện tượng nhân cách. Khi phân tích nhân cách phải kể đến động
cơ, nhu cầu, mục đích và hành động của cá nhân trong hoạt động. Từ đó mới có
thể tách bạch được con người ở những cấp độ khác nhau: cấp độ sinh vật, cấp độ
tâm lý với tư cách chủ thể và cấp độ xã hội [13].
Nhà tâm lý học Platonov đã đưa ra hệ thống cấu trúc chức năng cơ động
làm nền tảng để giải quyết những vấn đề về nhân cách. Đó là cấu trúc xu hướng
bao gồm ý hướng, ý nguyện, hứng thú, cấu trúc này không có yếu tố tự nhiên tác
động. Cấu trúc thứ hai là kinh nghiệm bao gồm các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và
thói quen. Cấu trúc thứ 3 là các quá trình tâm lý bao gồm những quá trình tâm lý
riêng lẻ và các chức năng tâm lý với hình thức phản ánh. Cấu trúc thứ 4 là các
thuộc tính sinh học qui định nhân cách, đó là thuộc tính của khí chất, giới tính,
lứa tuổi, bệnh lý của cá nhân.
Ngoài ra, ở Liên xô còn có xu hướng nghiên cứu nhân cách theo xu hướng
là cách tiếp cận cá thể hoá. Hoặc trên cơ sở phân tích hành vi phản xạ có điều
kiện của con người (quan điểm của Dobrưhin). Kovalev nêu quan điểm cho
rằng, nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu điều kiện hình thành nhân cách, hành
vi, ý thức đạo đức, mối quan hệ nhân cách…
Nền tảng tâm lý học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của nền tâm lý học
Liên xô cũ. Những luận điểm cơ bản của các nhà tâm lý học Macxit, sự vận
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của họ mãi mãi là bài học lớn cho
các nhà tâm lý học Việt Nam.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ở nước ta, các nhà tâm lý học như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê
Đức Phúc, Nguyễn Quang Uẩn đều có những công trình nghiên cứu, bài viết về
vấn đề nhân cách, đặc điểm nhân cách. Các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu
lý luận, làm rõ khái niệm nhân cách, đặc điểm nhân cách và các khía cạnh có
liên quan mà còn tiến hành nhiều phương pháp thực nghiệm, từ đó chỉ ra những
nét đặc trưng, cấu trúc, đăc điểm của nhân cách. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tồn
tại nhiều quan điểm khác nhau.
Tác giả Trần Trọng Thuỷ nhấn mạnh: nhân cách có quan hệ với các thuộc
tính nhất định của cá thể, có nghĩa nó là tính cá biệt [ DT 7; tr.41]
Theo Lê Đức Phúc, nhân cách là những nét bản chất, những phương thức
hành vi, biểu hiện độc đáo riêng biệt trong hoạt động với những mối quan hệ
hiện thực của một người. Và khi người ta chết đi, sự hoạt động của não bộ
không còn nữa, thì chỉ có sự phản ánh nhân cách của họ thông qua những người
khác, tạo nên những hiện tượng tâm lý có thể giải thích khác nhau mà thôi [16].
Trần Hiệp viết: “là kết quả của quá trình xã hội hoá cá nhân, nhân cách
bao gồm tập hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý đã qui định hoạt
động và hành vi của cá nhân, qua đó giá trị của cá nhân ấy được xác đinh.” [DT
7]
Nguyễn Quang Uẩn xác định: nhân cách là tổ hợp những đăc điểm, những
thuộc tính tâm lý đã qui định hoạt động và hành vi của cá nhân, qua đó giá trị xã
hội của cá nhân ấy được xác định. Tác giả cho rằng, nhân cách có 4 đặc điểm cơ
bản như: tính thống nhất, tính ổn định, tính tích cực và tính giao lưu [24].
Đỗ Long coi: nhân cách là một chủ thể tự ý thức ở mỗi con người, thể
hiện thông qua quá trình tự khẳng định trong hoạt động chủ đạo của chính mình.
Theo Vũ Dũng, “một mặt nhân cách là sản phẩm của sự phát triển lịch sử
xã hội, mặt khác nhân cách cũng là ngươì sáng tạo ra hoàn cảnh, điều kiện, của
cải xã hội… Những nét đặc trưng của nhân cách bao gồm: tính tích cực hoạt
động và mở rộng phạm vi của nó, xu hướng với một hệ thống động cơ vững
chắc, trình độ tự nhận thức về các quan hệ của mình với hiên thực” [3, tr.179].
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tóm lại, các nhà tâm lý học Việt Nam mặc dù có quan điểm không đồng
nhất nhưng họ đã đưa ra những kết luận tương đối nhất quán: khái niệm nhân
cách là một phạm trù xã hội lịch sử, nhân cách thường được xác định như là một
hệ thống các quan hệ của con người, nhân cách thuộc về con người cụ thể bao
hàm những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân biểu hiện bản sắc và giá
trị xã hội của họ, nhân cách bao gồm các mặt luôn có tác động qua lại với nhau
là nhận thức, xúc cảm, động cơ và ý chí…
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề nhân cách phạm nhân
Mặc dù nhân cách là vấn đề được nghiên cứu rất sâu rộng, nhưng riêng về
vấn đề nhân cách phạm nhân cho đến nay trên thế giới vẫn rất ít được nghiên
cứu, thỉnh thoảng mới được gián tiếp đề cập đến trong một số công trình nghiên
cứu về phạm nhân. Chẳng hạn khi nghiên cứu những yếu tố chi phối thái độ
chấp hành nội quy, quy chế trại giam, Ph.R. Xundurov đã nhận thấy rằng những
phạm nhân có gia đình ít vi phạm kỉ luật hơn những phạm nhân chưa có gia đình
hoặc đã có nhưng li hôn [DT 4].
Ở Việt Nam, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào tiến hành
nghiên cứu về đặc điểm nhân cách của phạm nhân. Các nhà tâm lý học mới chỉ
nghiên cứu về nhân cách chung chung, hoặc đăc điểm nhân cách của môt số đối
tượng khác, mà không nghiên cứu về nhân cách phạm nhân: Nhà tâm lý học Lê
Thị Hà với đề tài nghiên cứu “Đặc điểm nhân cách của gái maị dâm và định
hướng giải pháp giáo dục” (Luận án tiến sĩ tâm lý học).
2. Các khái niệm cơ bản
2.1. Khái niệm nhân cách và đặc điểm nhân cách
2.1.1. Khái niệm nhân cách (NC)
NC là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học và nhiều ngành khoa học
khác: giáo dục học, triết học, xã hội học… Trong tâm lý học, NC là một vấn đề
rất rộng lớn và phức tạp, các quan điểm tiếp cận lại rất đa dạng, mỗi quan điểm
lại đưa ra khái niệm NC trên những góc độ nghiên cứu của mình. Cho nên đến
nay, giới nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Về mặt thuật ngữ, từ NC bắt nguồn từ chữ “persona” trong tiếng Hi Lạp
cổ đại. Trong từ điển Anh - Việt, “personality” nghĩa là nhân cách, nhân phẩm,
cá tính, người, cá nhân. Theo Từ điển Nga- Việt, từ “litrnost” nghĩa là: nhân
cách, nhân phẩm, con người, nhân vật, cá nhân. Còn trong từ điển tiếng Việt, từ
NC được hiểu là tư cách và phẩm chất của con người [15, tr.407].
Trong tâm lý học phương Tây, NC được nghiên cứu trên cơ sở của nhiều
lý thuyết. Có những lý thuyết đề cao quan điểm mặt sinh học trong cách hiểu về
NC, coi yếu tố sinh học là cái quan trọng hơn cả cần nghiên cứu trong hệ thống
nghiên cứu về NC, như bản năng vô thức (S. Freud), đặc điểm hình thể
(Kretschmer), thể trạng (Sheldon)…
Có những lý thuyết lại đề cao quan điểm xã hội trong định nghĩa về NC,
cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về NC con
người mà không tính đến vai trò của các yếu tố sinh học: G.H. Mead, C.
Rogers…
Theo H. Thomae, NC là khái niệm bao hàm tất cả sự kiện hợp thành một
tiểu sử cá nhân.
Cattell cho rằng NC là hành vi của một người trong một tình huống nhất
định.
Esensk quan niệm NC là một tổ chức mang tính ổn định ít hay nhiều của
tính cách, khí chất, trí tụê và sinh lý của cá nhân, qui định tính độc đáo của sự
thích nghi đối với môi trường của nó.
Ở Liên Xô trước đây cũng có rất nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu về NC.
Xuất phát từ quan điểm cuả tâm lý học Macxit cho rằng: NC là một phạm trù xã
hội, có bản chất xã hội – lịch sử, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa NC khác
nhau.
X.L. Rubinstein đã viết: “Con người là cá tính do nó có những thuộc tính
đặc biệt, không lặp lại, con người là NC do nó xác định được quan hệ của mình
với những người xung quanh một cách có ý thức”.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo Lêônchiev, NC không phải được sinh ra mà là được hình thành, là
một cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong các quan hệ sống cá nhân do hoạt
động của người đó được cải biến mà thành [13].
Còn theo Ananiev, NC là cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ
thể của bước tiến lịch sử, NC không tồn tại ngoài xã hội, ngoài lịch sử.
Tác giả Platonov hiểu NC đồng nghĩa với con người. Theo đó, ông cho
rằng, NC là con người có ý thức, NC là con người có lí trí, có ngôn ngữ, lao động.
Tóm lại, các nhà tâm lý học có quan niệm khác nhau về khái niệm NC
nhưng họ đều thống nhất với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
NC là một phạm trù xã hội có tính lịch sử, NC không phải có sẵn hay bẩm sinh
mà được hình thành và phát triển như những quan hệ xã hội mà trong đó cá nhân
đang lớn lên và đang biến đổi.
Trong cách hiểu của người Việt, NC có thể đươc hiểu dưới các mặt: thứ
nhất, NC được hiểu là con người có tài đức hay là tính cách và năng lực hoặc là
con người có các phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ. Thứ hai, NC được hiểu như các
phẩm chất và năng lực của con người. Thứ ba, NC có thể được hiểu như mặt đạo
đức, giá trị làm người của con người.
Trong khoa học tâm lý Việt Nam, NC là một khái niệm được các nhà tâm
lý học nghiên cứu từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một khái
niệm thống nhất.
Các nhà nghiên cứu khi đưa ra định nghĩa về NC đều căn cứ vào các quan
điểm của tâm lý học Macxit, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người,
đạo đức cách mạng.
Tác giả Phạm Hoàng Gia đã coi NC là giá trị xã hội hay phẩm giá của một
cá nhân.
Theo Bùi Văn Huệ, bản chất của NC là phạm trù thuộc cấp độ xã hội, bao
trùm lên một không gian rộng lớn hơn nhiều so với không gian của lớp đặc điểm
tâm sinh lý cá nhân [10, tr.56].
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ đưa ra định
nghĩa: "NC không phải là tổng hoà không phải mọi đặc điểm cá thể của con
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
người mà chỉ là những đặc điểm nào qui định con người như là thành viên của
xã hội, như là một công dân, một người lao động, một nhà hoạt động có ý
thức… NC là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định
giá trị xã hội và hành vi của họ" [DT 7, tr.84].
Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, "NC là hệ thống những phẩm giá xã hội của
cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể xã hội
với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá
khứ, hiện tại và tương lai" [2, tr.222].
Theo chúng tôi, “NC là một tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá
nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy” [22, tr.179].
Trong khái niệm trên, “thuộc tính tâm lý” được hiểu là những hiện tượng
tâm lý tương đối ổn định, có tính qui luật chứ không xuất hiện một cách ngẫu
nhiên. “Tổ hợp” có nghĩa là những thuộc tính tâm lý hợp thành NC có quan hệ
chặt chẽ với nhau, tác động qua lại làm thành một tổ hợp cấu trúc nhất định.
“Bản sắc” là muốn nói tới trong số những thuộc tính tâm lý đó, có cái chung từ
xã hội, song trong từng con người cụ thể đã biến thành cái riêng, cái khác biệt
của từng người không giống với các tổ hợp khác của bất cứ người nào. “Giá trị
xã hội" nghĩa là những thuộc tính tâm lý đó ở cá nhân được thể hiện ra bằng
những việc làm, hành vi, lao động ở người ấy và được xã hội đánh giá.
2.1.2. Đặc điểm nhân cách (ĐĐNC)
Cũng giống như NC, trong tâm lý học có rất nhiều quan điểm khác nhau
về khái niệm ĐĐNC.
Trong tiếng Anh, từ “đặc điểm” thường được gọi là “trait”, trong tiếng
Nga là “xapakatep” được dịch sang tiếng Việt có nghĩa là đặc điểm, tính cách.
Trong từ điển tiếng Việt, “đặc điểm” được hiểu là nét riêng biệt [15, tr.283]. Vì
thế khi xem xét, ĐĐNC được coi là nét riêng biệt của NC hay là nét NC.
Trong các nghiên cứu về ĐĐNC của giới tâm lý học phương Tây, nổi lên
các lý thuyết theo trường phái ĐĐNC (trait theory) của các tác giả: Allport,
Cattell, Eysensk, Pervin… Họ cho rằng, đặc điểm là thiên hướng ứng xử theo
một cách thức nhất định của NC, đặc điểm qui định và điều chỉnh hành vi. Mặc
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dù chưa có cách hiểu thống nhất, chưa đưa ra một khái niệm ĐĐNC giống nhau
nhưng các tác giả khi đưa ra định nghĩa về thuật ngữ ĐĐNC đều đặt trong mối
quan hệ mật thiết với hành vi, coi hành vi như là hệ quả của những đặc điểm
nhân cách mang tính ổn định, nhất quán. Lý thuyết về ĐĐNC nhìn nhận hành vi
con người một cách đa dạng với đa biến số, phương pháp tiến hành nghiên cứu
cũng rất độc đáo và phát triển từng bước. Các nhà nghiên cứu đã chú trọng đến
nhiều nguồn của số liệu nghiên cứu: phòng thí nghiệm, quan sát tự nhiên và
bảng hỏi. Các nhà nghiên cứu về ĐĐNC đã cho ra đời những công cụ đo lường
NC ổn định và rất hữu ích trong công việc đánh giá và dự báo về NC.
Theo Allport, đặc điểm là các đơn vị cơ bản của NC, các đặc điểm thực sự
tồn tại và dựa trên hệ thần kinh. Chúng đại diện cho những thiên hướng khái
quát của NC và chịu trách nhiệm về tính ổn định trong vận hành của một người
trong suốt các tình huống và thời gian. Ông phân biệt hai loại đặc điểm là đặc
điểm cá nhân và đặc điểm chung. Đặc điểm chung là những đặc điểm có ở đa số
mọi người, đặc điểm cá nhân là những đặc điểm tạo nên tính duy nhất của người
đó hoặc của một số người. Theo ông, lý thuyết NC phải nhấn mạnh đến đặc
điểm cá nhân. Những đặc điểm cá nhân sau này được ông gọi là thiên hướng cá
nhân và thiên hướng này cũng được chia thành ba loại: thiên hướng chủ yếu,
thiên hướng trung tâm và thiên hướng thứ yếu.
Lý thuyết về ĐĐNC của Eysenck cho rằng, NC là một tổ chức có tính thứ
bậc. Cấp độ đơn giản nhất của hành vi là những phản ứng đặc biệt, tiếp đến một
nhóm thói quen kết hợp với nhau tạo nên các đặc điểm. Chúng tổng hợp nên một
yếu tố bậc cao nhất, được gọi là các siêu yếu tố. Ông đã xác định các chiều cạnh
cơ bản của NC nằm sau các yếu tố hoặc các đặc điểm đã tìm được. Các chiều
cạnh cơ bản này ông gọi là các loại hình hay các kiểu loại NC, bao gồm: tính
hướng nội- hướng ngoại, tính nhạy cảm, dễ bị kich thích hay là ổn định và bất
ổn định và tính tâm thần. Eysenck nhấn mạnh rằng các ĐĐNC có cơ sở sinh học
và phủ định vai trò của yếu tố xã hội trong sự hình thành nên các ĐĐNC.
Với Cattell, yếu tố cơ bản về mặt cấu trúc là đặc điểm, được định nghĩa
như là một thiên hướng. Theo ông thì các đặc điểm không đồng nhất với nhau,
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chúng khác nhau về quá trình hình thành, về khả năng thay đổi, về vai trò trong
cấu trúc NC. Ông đã tìm cách để phân biệt các loại đặc điểm khác nhau và chia
chúng thành hai nhóm: nhóm thứ nhất ông phân biệt giữa các đặc điểm năng
lực, đặc điểm tính khí và đặc điểm động thái, còn nhóm thứ hai là phân biệt giữa
các đặc điểm bề ngoài và đặc điểm nguồn gốc. Kết quả hàng loạt các nghiên cứu
thực nghiệm của ông là một bảng hỏi có tên 16 yếu tố nhân cách con người.
Cattell không coi con người là một đơn vị cố định ứng xử theo một cách
thức trong tất cả các tình huống. Các ứng xử phụ thuộc vào ĐĐNC và động cơ
thích ứng với tình huống đó. Thêm vào đó trạng thái và các vai trò cũng có tầm
quan trọng đặc biệt liên quan đến sự thay đổi của hành vi.
Ông cũng quan tâm tới hai vấn đề lớn là yếu tố di truyền và giáo dục
trong sự phát triển NC con người. Từ các nghiên cứu ông cho rằng, ảnh hưởng
của di truyền và môi trường thay đổi theo từng đặc điểm.
Nhìn chung, các đại diện của dòng lý thuyết về ĐĐNC đều cho rằng
ĐĐNC là thiên hướng phản ứng chung của cá nhân và là đơn vị cơ sở của NC.
Điểm khác nhau ở họ là số lượng và ý nghĩa của các đặc điểm cần thiết để có thể
có những mô tả hoàn chỉnh về NC.
Theo các nhà tâm lý học Macxit, con người là một thực thể xã hội và do
đó, NC, về nguyên tắc được quyết định bởi hoạt động trong xã hội đó. Con
người sống và hoạt động trong xã hội đều chịu sự tác động của tổng hoà các yếu
tố xã hội trong toàn bộ cuộc sống của mình. Các yếu tố đó có mối quan hệ mật
thiết với nhau và tạo thành môi trường xã hội của NC. Điều này có thể thấy rõ
trong lý thuyết về NC của Lêônchiev- lý thuyết hoạt động, coi hoạt động là cơ
sở của NC. Theo đó, tác giả coi NC như là một cấu tạo tâm lý mới hình thành
trong các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo con người, do
đó hoạt động là cơ sở của NC. Từ đó ông cho rằng, ĐĐNC luôn được thể hiện
trong các hoạt động của con người, nhất là các hoạt động chủ đạo.
Các nhà tâm lý học Việt Nam thường coi ĐĐNC là nét NC hoặc các thuộc
tính tâm lý của cá nhân. Trong từ điển tâm lý học, khái niệm nét NC được hiểu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét