Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN
PHẦN II
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI
TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
2.1. Khái niệm về tranh chấp kinh tế, thương mại và việc giải quyết
tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án
Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại hiện nay đòi hỏi phải có
những hình thức, thủ tục đa dạng, linh hoạt, trong khuôn khổ pháp luật kinh
tế, dựa trên sự tôn trọng quyền định đoạt của đương sự, bảo đảm thời gian,
bảo đảm bí mật kinh doanh và uy tín của của các bên đương sự, phù hợp với
thông lệ và tập quán quốc tế.
Ngày 01/07/1994 trọng tài kinh tế chấm dứt hoạt động. Toà kinh tế, một
Toà chuyên trách của Toà án nhân dân đã được ra đời, có chức năng giải
quyết và xét xử các vụ án kinh tế. Pháp luật nội dung trong thời gian qua ở
nước ta đã có nhiều bước tiến đáng kể theo hướng văn minh, hiện đại. Việc
xác định một vụ việc tranh chấp về kinh tế, thương mại và việc xác định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong việc thụ lý, chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh chấp
cũng như việc thi hành quyết định, bản án của Toà án. Vậy như thế nào là
một tranh chấp kinh tế, thương mại, đây là một vấn đề còn có nhiều quan
điểm, chúng ta cùng tìm hiểu nó.
a.Khái niệm tranh chấp kinh tế
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, một trong những công việc đầu
tiên mà Toà án cần làm là xem xét tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền của
mình hay không, và việc xác định thế nào là tranh chấp kinh tế có ảnh hưởng
lớn đến thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp này. Trên
thực tế, “tranh chấp kinh tế” có nhiều cách hiểu, nhưng trong khoa học pháp
lý, khái niệm “tranh chấp kinh tế” có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khác
nhau như: từ góc độ pháp luật nội dung, từ góc độ pháp luật tố tụng.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, thuật ngữ “Tranh chấp kinh tế” được
sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh thuật ngữ này còn có các thuật
5
ngữ khác như “Tranh chấp thương mại”, “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” . Có
quan điểm cho rằng, tranh chấp kinh tế trong kinh doanh phần nào có sự khác
biệt với tranh chấp kinh tế nói chung. Bởi lẽ, khái niệm “kinh tế” cũng như
“Quan hệ kinh tế” thông thường được hiểu rộng hơn khái niệm “Kinh doanh”,
“Quan hệ kinh doanh”. Kinh doanh chỉ là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và
mang tính nghề nghiệp như sản xuất, buôn bán, dịch vụ v.v… Trong khi đó,
kinh tế có sự bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác. Chính vì
vậy, việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh cũng có những nét đặc thù
so với giải quyết tranh chấp kinh tế.
Khác với quan điểm trên, một số tác giả lại đồng nghĩa “Tranh chấp
kinh tế” với “tranh chấp kinh doanh” hoặc cho rằng “Tranh chấp kinh tế” là
tranh chấp phát sinh từ vi phạm hợp đồng kinh tế.
Dưới góc độ pháp luật nội dung, “Tranh chấp kinh tế” là những tranh
chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế.
Tuy nhiên với khái niệm “Tranh chấp kinh tế” như vậy khó có thể cho phép
phân biệt được với các loại tranh chấp với các loại tài sản khác như tranh
chấp Dân sự, Thương mại vì nội hàm của nó quá rộng.
Dưới góc độ pháp luật tố tụng hiện hành ở Việt Nam hiện nay, tranh
chấp Kinh tế (hay tranh chấp Thương mại) bao gồm những tranh chấp phát
sinh trong nội bộ Công ty, trong hoạt động kinh doanh v.v… Có thể nói cách
tiếp cận này có phạm vi nội hàm hẹp nên không thể bao quát hết các tranh
chấp đã và đang phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Trên thế giới, khái niệm “Tranh chấp kinh tế” không được thể hiện
trong pháp luật nội dung cũng như pháp luật hình thức và không có sự phân
biệt giữa “Tranh chấp kinh tế” và “Tranh chấp dân sự”. Có chăng chỉ là có sự
phân biệt giữa “Tranh chấp Thương mại” và “Tranh chấp Dân sự”.
Theo quan điểm của em, “Tranh chấp kinh tế” hay “Tranh chấp thương
mại”cần được hiểu là những mâu thuẫn (Bất đồng hay xung đột) về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình hoạt động Thương Mại (Giáo trình luật
thương mại –Tập 2 –Trường Đại học luật Hà Nội).
6
“Tranh chấp kinh tế” là hệ quả phát sinh từ các quan hệ kinh tế – các
quan hệ có tính chất tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời. Tính chất, đặc
điểm của các tranh chấp kinh tế bị chi phối bởi tính chất nội dung của các
quan hệ kinh tế. Hay nói cách khác, cơ sở phát sinh của các tranh chấp kinh tế
là các hoạt động kinh tế giữa các chủ thể. Khi tham gia các quan hệ kinh tế,
các chủ thể đều hướng tới một mục đích cao nhất là lợi nhuận, lợi ích kinh tế.
Do vậy, sự vi phạm về quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ dẫn tới hệ quả là
một bên nào đó đã bị gây thiệt hại về quyền lợi kinh tế, theo đó tranh chấp
kinh tế sẽ phát sinh. Các tranh chấp kinh tế có thể phát sinh trong cả quá trình
sản xuất và tái sản xuất xã hội, từ khâu đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Các tranh chấp
này thường ảnh hưởng đến không những quyền lợi của các bên tranh chấp mà
còn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của cả cộng đồng. Đây chính là tính
phản ứng dây chuyền của tranh chấp kinh tế, và do vậy nếu có không được
giải quyết một cách khoa học, nghiêm minh, kịp thời, chính xác và đúng pháp
luật, bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh chấp thì có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
2.2. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA, ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA
PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ
ÁN
a. khái niệm
“Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại” được hiểu là các hình thức,
các phương pháp nhằm giải quyết các bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể kinh doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có tranh
chấp.
b. ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại
Đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng kịp thời, chính xác,
nghiêm minh, đúng pháp luật.
7
Đảm bảo các cho các phán quyết của Toà án được thực thi một cách
nghiêm chỉnh đúng pháp luật. Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự gián
đoạn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tranh chấp.
c. Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại
tại Toà án
Có 4 phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến: Thương lượng, Hoà
giải, Trọng tài, Toà án. Trong đó giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại
Toà án là phương thức quan trọng nhất. Bởi vì, Toà án là một cơ quan Nhà
nước tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm ra một bản án hay
quyết định về vụ tranh chấp và đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế
của Nhà nước.
d. Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương
mại tại Toà án
Phương thức này mất nhiều thời gian (Từ sơ thẩm-phúc thẩm-tái thẩm-
giám đốc thẩm) và phải xét xử công khai. Do đó, dễ bị lộ về bí quyết kinh
doanh, uy tín bị giảm sút).
2.3 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI
CỦA TOÀ KINH TẾ
Các vụ việc phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại đa dạng và
phức tạp. Quyền lựa chọn của các đương sự trong vụ tranh chấp cũng rộng
hơn, có thể thoả thuận với nhau lựa chọn con đường Toà án hoặc Trọng
tài.Trong thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại. Bước
đầu tiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động tố tụng
là việc khởi kiện của nguyên đơn . Sau khi nhận được đơn khởi kiện của
nguyên đơn và các chứng cứ , tài liệu kèm theo thì Toà án phải vào sổ nhận
đơn và xem xét.
Sau đó cơ quan Toà án phải xem xét về điều kiện thụ lý vụ án kinh tế,
nếu nó thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế thì Toà sẽ nhận đơn khởi kiện của
nguyên đơn và thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án
phí. Sau khi người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí thì Toà án quyết định
8
nhận giải quyết vụ án và vào sổ thụ lý vụ án kinh tế để giải quyết. Thời điểm
thụ lý chính là mốc xác định các thời hạn tố tụng ràng buộc trách nhiệm và
nghĩa vụ của Toà. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải triệu tập đương sự
Toà án phải tuân thủ đúng các thời hạn luật định về chuẩn bị xét xử và
mở phiên Toà, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Toà án
sẽ trả lại đơn kiện nếu tranh chấp đó thuộc một trong các trường hợp được
quy định tại Điều 168 của BLTTDS năm 2004.
Điểm khác biệt của BLTTDS so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế là: Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế dùng
khái niệm: “Tranh chấp về hợp đồng kinh tế”, còn BLTTDS năm 2004 dùng
khái niệm “Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại’’. Trong
BLTTDS mới đã liệt kê các hành vi kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền
giải quyết của Toà án đầy đủ hơn các quy định của Pháp lệnh.
-Về chủ thể của tranh chấp kinh doanh, Thương mại: Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế quy định tranh chấp về hợp đồng kinh tế phát
sinh giữa pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh
doanh. Còn BLTTDS quy định tranh chấp kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh. Như vậy, các tranh chấp mà không có
sự tham gia của một bên là pháp nhân thì không được coi là tranh chấp kinh
tế và như vậy không được giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế.
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định Hợp đồng kinh tế phải có mục
đích kinh doanh, còn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế không
quy định mục đích của các bên tranh chấp. Do đó, khi xảy ra tranh chấp nếu
thoả mãn về mặt chủ thể và hình thức của hợp đồng kinh tế thì được giải
quyết các tranh chấp kinh tế. Trong BLTTDS quy định các chủ thể trong hoạt
động kinh doanh thương mại phải có mục đích lợi nhuận. Như vậy, điểm khác
biệt giữa pháp lệnh cũ và BLTTDS về giải quyết tranh chấp là Bộ luật coi
trọng vấn đề mục đích của các chủ thể ,vấn đề về hình thức và chủ thể của
quan hệ tranh chấp.
9
a. Thẩm quyền của Toà án các cấp
Việc phân định thẩm quyền của Toà án các cấp dựa vào nhiều tiêu chí
để đảm bảo việc giải quyết được chính xác, đúng pháp luật. Có thể căn cứ vào
mức độ phức tạp của từng loại tranh chấp để phân định thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án cấp huyện hay Toà án cấp tỉnh. Pháp lệnh cũ quy định các
tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp (Điều 29 pháp lệnh bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp). Còn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy
định Toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế có giá
ngạch dưới 50.000.000 triệu đồng trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài.
Việc quy định giá ngạch tranh chấp để phân định thẩm quyền là không hợp
lý. Bởi có rất nhiều vụ án có giá trị tranh chấp không lớn nhưng rất phức tạp.
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều vụ án tuy có giá trị tranh chấp rất lớn nhưng
việc giải quyết tranh chấp lại rất đơn giản. Khắc phục hạn chế đó, BLTTDS
đã quy định dựa vào tính chất phức tạp của vụ việc để phân định thẩm quyền.
Điều 29, Điều 35 của Bộ luật liệt kê các tranh chấp được giải quyết tại Toà án
huyện: Mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diên, đại lý, ký
gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng
hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa.
Trong trường hợp các tranh chấp nêu trên sẽ thuộc thẩm quyền của Toà
án cấp tỉnh nếu có một trong các yếu tố:
- Có đương sự ở nước ngoài ;
- Có tài sản tranh chấp ở nước ngoài;
- Cần uỷ thác tư pháp, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài.
Điều 29, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự quy định các trường hợp thuộc thẩm
quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh là các tranh chấp phát sinh trong hoạt
động vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường biển, đường hàng không;
mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngân
hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ;
chuyển giao công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân với nhau và đều có mục
10
đích lợi nhuận; tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, giữa các thành
viên công ty với nhau liên quan đến những vấn đề của công ty.
b.Thẩm quyền theo lãnh thổ
Là việc xác định cụ thể Toà nào có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ
việc dân sự. Để bảo đảm cho việc giải quyết được nhanh chóng và đúng pháp
luật, nguyên tắc chọn Toà án nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở hoặc nơi làm
việc của bị đơn.
c. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Để thuận lợi nhất cho nguyên đơn trong việc giải quyết vụ tranh chấp
cũng như xác định thẩm quyền của Toà án cụ thể pháp luật giành cho nguyên
đơn được quyền chọn Toà án để giải quyết vụ tranh chấp. Theo Điều 36
BLTTDS năm 2004, nguyên đơn được lựa chọn Toà án để giải quyết vụ tranh
chấp về kinh doanh, thương mại.
11
PHẦN III
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI
TOÀ KINH TẾ- TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
3.1. GIỚI THIỆU VỀ TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Toà kinh tế- Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ được thành lập vào năm
1994 ( tỉnh Vĩnh Phú cũ) và được tách ra vào đầu năm 1997. Với vai trò là
Toà chuyên trách của Toà án Tỉnh, trong cơ cấu gồm có sáu thành viên thì có
ba thẩm phán chuyên trách và có ba thư ký .
3.2. THỰC TIỄN QUA GẦN 10 NĂM XÉT XỬ CỦA TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN
NHÂN TỈNH PHÚ THỌ
Trong khoảng từ 1997 đến tháng 4 năm 2007 Toà kinh tế-Toà án nhân
dân tỉnh Phú Thọ đã giải quyết 32 vụ án về tranh chấp kinh tế, thương mại.
Trong đó tranh chấp về Hợp đồng kinh tế có 31 vụ bao gồm:
-Tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hoá 12 vụ chiếm 38.7%. Tranh
chấp này tăng mạnh từ năm 1998 đến 2006 (số liệu thống kê từ năm 1998-
đến năm 2000)
-Tranh chấp về Hợp đồng xây dựng cơ bản là 14 vụ chiếm
45.1%.Trong những năm qua tranh chấp liên quan đến Hợp đồng xây dưng cơ
bản tăng mạnh từ năm 1999 đến 2000 (số liệu thống kê từ năm 1999-2000)
-Tranh chấp về Hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác là 2 vụ chiếm 6.4 %.
(một vụ năm 2002 giữa công ty DAELIM-CORPORATION và công ty
12
TNHH TASCO-MATERIAL; và một vụ giữa Công ty xây dựng số 25 và
Công ty TNHH KOR-VIPACK)
-Về tranh chấp trong thành lập, hoạt động, giải thể Công ty có 1 vụ là
về việc tranh chấp giữa thành viên Công ty là bà Đào Thị Phương với Công ty
và Công ty cổ phần Hoà Thanh (chiếm tới 3,4%)
-Về tranh chấp liên quan đến Mua bán Cổ phiếu, Trái phiếu không có
vụ nào.
-Về các tranh chấp kinh doanh thương mại khác không có vụ nào.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, em thấy về tranh chấp Hợp đồng kinh tế
là có số vụ cao nhất là 31 vụ, trong đó hoà giải được 8 vụ chiếm tới 25% đưa
ra xử là 23 vụ chiếm tới 71.8%. Các vụ án được hoà giải đều được cơ quan
Toà án chấp nhận và dựa trên sự thoả thuận thuận tình của 2 bên. Các vụ án
được đưa ra xét xử thì trong đó xét xử sơ thẩm thì có những vụ án đã xét xử
sơ thẩm đến phúc thẩm và rồi lại được xét xử lại kéo dài nhiều năm. Tiêu biểu
như vụ: về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán trong hoạt động kinh doanh
thương mại giữa Công ty TNHH khai thác đá Hương Cần và công ty cổ phần
xây dựng Hùng Vương. Với vụ án này Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên tại bản án
sơ thẩm số 01/2001/ KDTM-ST , ngày 31/05/2001 . Thẩm phán- chủ toạ
phiên toà ông Nguyễn Ngọc Triệu đã tuyên buộc Công ty Cổ phần Xây Dựng
Hùng Vương phải thanh toán cho Công ty TNHH Khai thác Đá Hương Cần
tiền nợ gốc là 304.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả 1,5% /tháng tính đến ngày
tuyên án sơ thẩm là 21 tháng 8 ngày , thành tiền là 96.236.000 đồng . Tổng số
tiền Công ty Cổ phần Xây Dựng Hùng Vương phải thanh toán trả Công ty
TNHH khai thác Đá Hương Cần là 400.236.000 đồng . Tại bản án phúc thẩm
của Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội bản án số 159/2001 KTPT ngày
17/8/2001 với hội đồng xét xử thẩm phán- chủ toạ phiên toà Ông : Trần Đình
Dần đã tuyên quyết định buộc Công ty Cổ phần Xây dựng Hùng Vương phải
thanh toán cho Công ty TNHH thai thác Đá Hương Cần cả số tiền nợ gốc là
304 triệu đồng lãi chậm trả 1.5%/tháng tính đến ngày tuyên án sơ thẩm là 21
tháng 8 ngày, thành tiền là 96.236.000 triệu đồng. Tổng số tiền Công ty Cổ
13
phần Xây dựng Hùng Vương phải thanh toán cho Công ty TNHH khai thác
Đá Hương Cần là : 400.236.000 đồng.
Trong tranh chấp về Hợp đồng kinh tế thì tranh chấp về
Hợp đồng xây dựng cơ bản và Hợp đồng mua bán hàng hoá có số lượng lớn
(hợp đồng xây dựng cơ bản là 14 vụ chiếm 45,1%, Hợp đồng mua bán hàng
hoá :10 vụ chiếm 32,2%)
Còn số vụ về tranh chấp Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là 4 vụ chiếm
12,9%; tranh chấp về Hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác là 2 vụ chiếm 6,4%.
Tranh chấp các Hợp đồng có nhân tố Nước ngoài là :1 vụ chiếm 3,4 %. Điều
đó cho chúng ta thấy rằng, các tranh chấp về Hợp đồng vận chuyển hàng hoá;
tranh chấp về xuất nhập khẩu uỷ thác; tranh chấp các Hợp đồng có nhân tố
Nước Ngoài đều có số lượng ít.
Tóm lại: các tranh chấp về Hợp đồng xây dựng cơ bản và Hợp đồng
Mua bán hàng hoá có tỷ lệ cao. Đó là do sự phát triển của nền kinh tế thị
trường; các tổ chức kinh tế(Doanh nghiệp; Hợp tác xã; Công ty) bước vào
kinh doanh. Đây là quy luật tất yếu, dẫn đến các tổ chức kinh tế gặp nhiều sự
bỡ ngỡ; chưa hiểu biết nhiều về pháp luật. Do đó, còn nhiều thủ tục chưa
đúng pháp luật về đầu tư kinh doanh.
-Số vụ án còn lại từ năm này sang năm khác không nhiều (chỉ chiếm tới
2%). Đặc biệt năm 2001 không có vụ án nào giải quyết
-Số vụ án Tạm đình chỉ có 2 vụ chiếm tới 6,4%
-Số vụ án còn lại không có
-Số vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 2 vụ chiếm tới 6,2%
-Số vụ án có người bảo vệ có quyền và lợi ích của đương sự chiếm tới
25%
C. Quyết định của Toà án:
+ Di lý( chuyển vụ án lên Toà án có thẩm quyền) là 3 vụ chiếm tới 9,4%
+ Tạm đình chỉ, đình chỉ 2 vụ chiếm tới 6,2%
+ Số vụ án hoà giải thành là 8 vụ chiếm tới 40%
+ Số vụ án đã xét xử 25 vụ chiếm tới 78,1%
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét