Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

2.2 Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách nhà nước qua Kho
Bạc Nhà Nước trong thời gian qua 27
2.2.1 Giai đoạn 1 (Trước khi có Luật Ngân sách) 27
2.2.2 Giai đoạn 2 (Từ khi có Luật Ngân sách) 30
2.2.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 34
2.3 Đánh giá tình hình kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách nhà nước qua Kho
Bạc Nhà Nước 38
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 38
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 41
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 51
3.1 Mục tiêu và đònh hướng hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên Ngân
sách nhà nước qua Kho Bạc Nhà Nước 51
3.1.1 Mục tiêu 51
3.1.2 Đònh hướng 54
3.2 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách nhà nước qua Kho
Bạc Nhà Nước 58
3.2.1 Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách nhà nước theo dự toán 59
3.2.2 Cấp phát Ngân sách nhà nước trực tiếp từ Kho Bạc Nhà Nước đến người
cung cấp hàng hoá, dòch vụ 61
3.2.3 Hoàn thiện các hình thức cấp phát Ngân sách nhà nước 64
3.2.4 Kiểm soát chi Ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra 64
3.3 Các giải pháp bổ trợ để thực hiện kiểm soát chi Ngân sách nhà nước 67
3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý 67
3.3.2 Nâng cao chất lượng dự toán chi Ngân sách nhà nước 69
3.3.3 Đẩy nhanh tiến trình công nghệ hoá Kho Bạc Nhà Nước 71
3.3.4 Hiện đại hoá công nghệ thanh toán của nền kinh tế 72
3.3.5 nâng cao rình độ chuyên môn và phẩm chất cán bộ Kho Bạc Nhà Nước 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO

CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò chi thường xuyên của ngân sách nhà
nước
1.1.1 Khái niệm về chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực Tài chính của
Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
chính trò xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá
thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động
sự nghiệp khác.
1.1.2 Phân loại chi thường xuyên
− Căn cứ vào tính chất kinh tế
Chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm mục cụ thể như sau:
+ Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân gồm: tiền lương; phụ cấp
lương; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; chi về công tác
người có công với cách mạng và xã hội; chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội;
các khoản thanh toán khác cho cá nhân.
+ Nhóm các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dòch vụ
công cộng; vật tư văn phòng; thông tin tuyên truyền liên lạc; hội nghò; công tác
phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên; chi phí nghiệp vụ chuyên môn
của từng ngành.

+ Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố đònh và xây dựng
nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố đònh phục vụ chuyên môn và các công trình cơ
sở hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên
môn.
+ Nhóm các khoản chi thường xuyên khác gồm các nhóm mục của mục
lục Ngân sách nhà nước không nằm trong 3 nhóm mục trên và các mục từ mục
147 đến mục 150 thuộc khoản chi thường xuyên trong mục lục Ngân sách nhà
nước.
− Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi cụ thể sau:
+ Chi cho sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vò sự nghiệp kinh tế
nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế – xã
hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận
lợi. Mục đích hoạt động của đơn vò sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy
lãi, do vậy ngân sách nhà nước cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của
các đơn vò này. Chi sự nghiệp kinh tế bao gồm:
• Chi sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp ngư nghiệp,
sự nghiệp lâm nghiệp, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thò chính và sự
nghiệp kinh tế công cộng khác.
• Chi điều tra cơ bản, đo đạc đòa giới hành chính các cấp.
• Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ
hồ sơ đòa chính.
• Chi đònh canh, đònh cư và kinh tế mới.
+ Chi sự nghiệp văn hoá: Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo; Chi sự nghiệp y
tế ; Sự nghiệp văn hóa,thông tin ; Sự nghiệp thể dục, thể thao ; Sự nghiệp phát

thanh, truyền hình ; Sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường ; Sự nghiệp xã
hội ; Sự nghiệp văn xã khác.
+ Chi quản lý hành chính: Là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan
hành chính Nhà nước thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến đòa
phương.
+ Chi về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam.
+ Chi về hoạt động của các tổ chức chính trò – xã hội: Bao gồm : mặt trận
tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân
Việt Nam.
Đối với nước ta các tổ chức trên là các tổ chức thuộc hệ thống chính trò của
nước ta, do vậy theo quy đònh của luật ngân sách nhà nước, ngân sách nhà nước có
trách nhiệm bố trí chi ngân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này.
+ Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước.
+ Chi các chương trình quốc gia.
+ Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội.
+ Chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy đònh của
pháp luật.
+ Chi trả lãi tiền do Nhà nước vay.
+ Chi viện trợ cho các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài.
+ Các khoản chi khác theo quy đònh của pháp luật.
1.1.3 Đặc điểm của chi thường xuyên
− Nguồn lực Tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân
bổ tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các
năm trong kỳ kế hoạch.

− Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình
thức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng. Cũng như các khoản chi khác của Ngân
sách nhà nước, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm
và có hiệu quả.
− Chi thường xuyên chủ yếu chi cho con người sự việc nên nó không làm
tăng thêm tài sản hữu hình của Quốc gia.
− Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác đònh cụ thể như
chi cho đầu tư phát triển. Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà
được thể hiện qua sự ổn đònh chính trò – xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền
vững của đất nước.
1.1.4 Vai trò của chi thường xuyên
− Chi thường xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của Ngân sách
nhà nước. Thông qua chi thường xuyên đã giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt
động bình thường để thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước; đảm bảo an
ninh, an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
− Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghóa rất lớn trong việc
phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng. Chi thường xuyên hiệu quả
và tiết kiệm sẽ tăng tích luỹ vốn Ngân sách nhà nước để chi cho đầu tư phát triển,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản
lý điều hành của nhà nước.
1.2 Hoạt động của Kho Bạc Nhà Nước trong hệ thống Tài chính của việt
Nam
1.2.1 Sự ra đời và phát triển của hệ thống Kho Bạc Nhà Nước Việt
Nam
Cùng với sự ra đời của nước Việt nam dân chủ cộng hòa (năm 1945), Nha
ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính đã được thành lập theo sắc lệnh số 45/TTg của

Thủ tướng Chính phủ với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là in tiền, phát hành tiền
của Chính phủ, quản lý quỹ Ngân sách nhà nước , quản lý một số tài sản quý của
Nhà nước bằng hiện vật như vàng, kim khí quý, đá quý…
Từ năm 1951, nhiệm vụ của Nha Ngân khố được chuyển giao sang hệ thống
Ngân hàng cùng với việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt nam (sau đổi tên là
Ngân hàng Nhà nước). Trong giai đoạn này, trên nền tảng của cơ chế kế hoạch
hoá tập trung, Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện chức năng: Quản lý Nhà nước
và kinh doanh trên lónh vực tiền tệ – tín dụng, thực hiện vai trò là 3 trung tâm tiền
tệ – tín dụng – thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, vừa thực hiện nhiệm vụ của
Nha Ngân khố bao gồm các công việc như: chấp hành quỹ Ngân sách nhà nước ,
tập trung các nguồn thu của Ngân sách nhà nước, tổ chức cấp phát chi trả các
khoản chi Ngân sách nhà nước theo lệnh của cơ quan tài chính, làm nhiệm vụ kế
toán thu, chi quỹ Ngân sách nhà nước, in tiền, phát hành tiền, quản lý dự trữ Nhà
nước về vàng bạc kim khí đá quý…
Những năm cuối của thập kỷ 90, công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
đất nước diễn ra một cách sâu sắc và toàn diện. Để phù hợp với cơ chế quản lý
kinh tế mới, cơ chế quản lý tài chính tiền tệ đã có sự thay đổi, đặc biệt là các vấn
đề có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của Tài chính và Ngân hàng. Hệ thống
Ngân hàng được tổ chức lại thành hệ thống Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà
nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên lónh vực tiền tệ tín dụng, các
Ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ – tín dụng. Nhiệm vụ quản lý
quỹ Ngân sách nhà nước, các quỹ Tài chính Nhà nước được chuyển giao từ Ngân
hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính để hệ thống Tài chính thực hiện chức năng quản
lý và điều hành Ngân sách nhà nước tài chính quốc gia.

Quan điểm thành lập hệ thống Kho Bạc trực thuộc Bộ Tài chính để quản lý
quỹ Ngân sách nhà nước và tài sản quốc gia đã được Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) quyết đònh tại Nghò đònh số 155/HĐBT ngày 15/10/1998 về chức năng
nhiệm và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính. Thực hiện Nghò đònh của Hội đồng Bộ
trưởng, từ năm 1988 – 1989, Bộ Tài chính đã có đề án thành lập hệ thống Kho
Bạc Nhà Nước và tiến hành thử nghiệm tại hai tỉnh Kiên Giang (từ tháng 10/1988)
và An Giang (từ tháng 7/1989); kết quả cho thấy: việc quản lý quỹ Ngân sách nhà
nước tại đòa bàn hai tỉnh trên thực hiện tốt, tập trung nhanh các nguồn thu, đáp ứng
đầy đủ kòp thời các nhu cầu chi Ngân sách nhà nước, trợ giúp đắc lực cho cơ quan
tài chính và chính quyền đòa phương trong việc quản lý và điều hành Ngân sách
nhà nước, mặt khác đã tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại trên đòa bàn
sắp xếp tổ chức lại hoạt động theo hướng kinh doanh trong lónh vực tiền tệ – tín
dụng có hiệu quả.
1.2.2 Chức năng của Kho Bạc Nhà Nước
Kho Bạc Nhà Nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng,
nhiệm vụ được quy đònh tại quyết đònh số 235/2003/QĐ-TTg ngày 13/11/2003 của
Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính và Kho Bạc
Nhà Nước.
Kho Bạc Nhà Nước có 2 chức năng cơ bản là:
− Quản lý Nhà nước về quỹ Ngân sách nhà nước, các quỹ Tài chính nhà nước
và các quỹ khác của nhà nước được giao quản lý.
− Huy động vốn cho Ngân sách nhà nước, cho đầu tư phát triển qua hình
thức phát hành công trái và trái phiếu.

Thực hiện và cụ thể hoá các chức năng nêu trên, Chính phủ, Bộ Tài chính
quy đònh nhiệm vụ của Kho Bạc Nhà Nước bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn
theo chức năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành.
1.2.3 Nhiệm vụ của Kho Bạc Nhà Nước

Quản lý quỹ Ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính khác của Nhà nước.
+ Quản lý quỹ Ngân sách nhà nước: Kho Bạc Nhà Nước có trách nhiệm quản
lý toàn bộ các khoản tiền của nhà nước, kể cả tiền vay, tiền trên tài khoản của
Ngân sách nhà nước các cấp. Cụ thể:
• Kho Bạc Nhà Nước có nhiệm vụ tập trung, phản ánh đầy đủ, kòp thời các
khoản thu Ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ Ngân sách
nhà nước do các tổ chức và cá nhân nộp tại hệ thống Kho Bạc Nhà Nước; thực
hiện hạch toán số thu Ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy đònh.
Luật Ngân sách, Điều 47 quy đònh “ toàn bộ các khoản thu Ngân sách nhà nước
phải nộp trực tiếp vào Kho Bạc Nhà Nước”.
• Kho Bạc Nhà Nước tổ chức thực hiện chi Ngân sách nhà nước. Kho Bạc
Nhà Nước quản lý, kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi từ Ngân sách nhà
nước bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước.
• Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ Ngân sách nhà nước, Kho Bạc Nhà
Nước có quyền trích từ tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp Ngân sách
nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho Ngân sách nhà
nước. Kho Bạc Nhà Nước có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi
không đúng, không đủ các điều kiện theo quy đònh của pháp luật và phải chòu
trách nhiệm về quyết đònh của mình.
+ Quản lý các quỹ tài chính khác của nhà nước:

• Kho Bạc Nhà Nước các cấp được giao nhiệm vụ quản lý, kiểm soát các quỹ
dự trữ tài chính của Trung ương, của các cấp chính quyền đòa phương, quỹ ngoại
tệ tập trung của nhà nước và một số quỹ tài chính nhà nước khác.
• Quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của nhà nước và của các đơn
vò, cá nhân gửi tại Kho Bạc Nhà Nước. Thực hiện quản lý các tài sản quốc gia quý
hiếm theo quyết đònh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
• Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các khoản tạm thu, tạm giữ, tòch
thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết đònh của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.

Tổ chức hạch toán kế toán Ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính khác
của nhà nước
Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ Ngân sách nhà nước và các quỹ tài
chính nhà nước, Kho Bạc Nhà Nước các cấp tổ chức thực hiện công tác hạch toán
kế toán Ngân sách nhà nước, kế toán các quỹ và tài sản do nhà nước giao. Trên cơ
sở các số liệu kế toán, đònh kỳ báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách
cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước có liên quy đònh.

Thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn: Kho Bạc Nhà Nước thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn như một ngân hàng.

Tổ chức huy động vốn cho Ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển
+ Huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư bảo đảm bù đắp thiếu hụt ngân
sách và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
+ Nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển từ Ngân sách nhà nước ngày càng lớn
đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội. Thông qua phát hành công trái,

trái phiếu huy động nguồn vốn trong dân cư để đầu tư cho các chương trình, dự án
lớn của nhà nước.

Quản lý, cấp phát, cho vay đối với các chương trình mục tiêu của Chính phủ
Để thực hiện nhiệm vụ này, Kho Bạc Nhà Nước phối hợp với các cơ quan
chức năng có liên quan để tổ chức thẩm tra, thẩm đònh, cấp phát, cho vay các dự
án, chương trình, đảm bảo vốn cấp phát, cho vay đúng mục đích, hiệu quả.
1.3 Cấp phát và thanh toán chi thường xuyên Ngân sách nhà nước qua Kho
Bạc Nhà Nước
1.3.1 Những nguyên tắc cơ bản trong cấp phát và thanh toán chi thường
xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho Bạc Nhà Nước
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cấp phát, thanh toán các khoản chi
thường xuyên Ngân sách nhà nước phải chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc
cơ bản sau đây:
Một là, tất cả các khoản chi thường xuyên Ngân sách nhà nước đều phải
được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các
khoản chi phải có trong dự toán ngân sách được duyệt. Việc chi tiêu phải đúng
chế độ, tiêu chuẩn, đònh mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy đònh và đã
được thủ trưởng đơn vò sử dụng ngân sách chuẩn chi.
Hai là, tất cả các cơ quan , đơn vò, các chủ dự án sử dụng kinh phí của Ngân
sách nhà nước đều phải mở tài khoản tại Kho Bạc Nhà Nước chòu sự kiểm tra,
kiểm soát của cơ quan tài chính và Kho Bạc Nhà Nước trong quá trình lập dự toán,
phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán Ngân
sách nhà nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét