nh đã làm trớc đây, mà phải bằng cách xoá bỏ dần dần bằng sự tác động của các
nhân tố khác trong đó kinh tế nông nghiệp là quan trọng nhất.
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ
đã đợc khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trờng, kinh tế
NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu đợc và đóng vai trò ngày càng quan
trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện nay nớc ta đang trong quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, một số định kiến xã hội trớc đây đối với
khu vực kinh tế NQD vẫn còn khá nặng nề. Khuôn khổ pháp luật để phát triển
kinh tế NQD đang xây dựng, cha hoàn chỉnh. Song từ khi có Luật Doanh nghiệp
(DN) có hiệu lực, môi trờng kinh doanh đã bớc đầu đợc cải thiện, các loại giấy
phép bất hợp lý đã đợc xoá bỏ, nhiều doanh ngiệp đã phát huy đợc tính chủ
động sáng tạo, tận dụng đợc hết năng lực vốn có và tăng vốn đầu t, mở rộng địa
bàn để phát triển sản xuất, kinh doanh
Vậy định hớng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu khách quan
phải trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất yếu khách
quan của kinh tế NQD và xu hớng nền kinh tế này phục vụ cho các mục tiêu
phát triển kinh tế của đất nớc trong thời nền kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN.
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH,
công ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp t nhân) và các hộ cá nhân có
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trờng, kinh tế NQD là
thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tơng
xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền
kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN đòi hỏi Nhà nớc phải có các chính sách,
điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy đợc vai trò của mình trong tình
hình kinh tế hiện nay.
2.1. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật
chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
5
Nớc ta là nớc có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu. Khu
vực kinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình làm tăng
của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế nh là: khu vực thu hút
nhiều lao động, đối tợng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
ở mọi nơi trong nớc rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông
thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế nh
tài nguyên, sức lao động, thị trờng mà vẫn cha đợc khai thác một cách hiệu
quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi
nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản
xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trờng. Vậy khu vực kinh tế NQD
là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc
thực hiện các chỉ tiêu về tăng trởng kinh tế do Nhà nớc đề ra.
2.2. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho ngời lao động
Nớc ta là nớc có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tợng lao động là rất
lớn. Vấn đề thất nghiệp đợc đặt ra cần đợc giải quyết. Trong khi khu vực kinh tế
Nhà nớc và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài luôn đòi hỏi lao động phải
có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc trong khu vực
trên dẫn đến một khối lợng lớn lao động đang ở tuổi lao động không thể làm
việc ở trong hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là so với 2 khu vực trên
thì khu vực kinh tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phần lao động, từ những
lao động có trình độ cao đến những lao động thủ công, từ những hợp đồng ngắn
hạn đến những hợp đồng dài hạn, theo mùa vụ hoặc theo thời gian nhất định
Do đó khu vực này góp phần giải quyết thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân
đối cho nền kinh tế.
2.3. Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn thu
ổn định và ngày càng tăng
Trớc hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế
NQD mới đúng bản chất là thuế. Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nớc, Nhà
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
6
nớc không phải chủ sở hữu t liệu sản xuất, Nhà nớc thu thuế của khu vực này
mà không phải đầu t trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu vực này rất
lớn ngày càng tăng và đợc dùng chủ yếu để đầu t vào các ngành nghề kinh tế
mũi nhọn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém đồng thời
khu vực này còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nớc nhiều hơn nữa thông
qua các hoạt động tự nguyện hởng ứng các phong trào do Nhà nớc, đoàn thể
phát động nh ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thơng binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng tr-
ờng học, đờng xá đóng góp vào các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa Vậy khu
vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và đóng góp vào ngân sách Nhà
nớc rất lớn.
2.4. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu t cho xã
hội
Khu vực này tạo ra một thị trờng vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềm
năng cho sự phát triển của các ngân hàng ở nớc ta do sự đổi mới kinh tế, nhờ
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã hình thành
và huy động một lợng vốn đầu t lớn cho xã hội. Đây là một nguồn vốn quan
trọng, song khai thác cha hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực kinh tế NQD càng
phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với
các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công
tác huy động vốn.
2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn
tại và phát triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội,
giúp cho Nhà nớc trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu t vào
những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống
xã hội, tránh đầu t phân tán, dàn trải Thực tiễn cho thấy có khu vực này nhiều
ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nớc không cần phải đầu t
hoặc chỉ đầu t có hạn còn về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã đảm đơng các
chức năng bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng và tổ chức các dịch vụ tiêu dùng cho
xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn và miền núi.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
7
- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình
thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị tr-
ờng, thúc đẩy kinh tế Nhà nớc tăng cờng hạch toán kinh doanh, đổi mới công
nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Trớc đây trong điều
kiện chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm hàng hóa dù sản
xuất ra với bất kỳ chất lợng nào, giá cả ra sao đều đợc tiêu thụ. Nhng từ khi có
kinh tế NQD với đặc điểm t hữu cao, khu vực này rất linh hoạt năng động với
tinh thần trách nhiệm rất cao trong sản xuất, tìm kiếm thị trờng đồng thời luôn
tập trung cao độ tinh thần làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình. Để
cạnh tranh với khu vực NQD thì buộc khu vực kinh tế quốc doanh phải cải tiến
hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ không đợc thị trờng chấp nhận. Bên cạnh sự
cạnh tranh đó thì nếu hai khu vực này không còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản
phẩm sản xuất ra đợc hoàn thiện với chất lợng cao hơn. Vậy hợp tác và cạnh
tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của hai khu vực kinh tế này.
- Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào cơ
chế quản lý làm thay đổi phơng thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay đổi tác
phong, lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nớc, của ngời lao động.
Trớc hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nớc, phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp không
còn thích hợp nữa vì Nhà nớc không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh tế NQD
phải sản xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá trị, do thị
trờng do nhu cầu xã hội quyết định. Với khu vực kinh tế NQD các cơ quan quản
lý, công chức Nhà nớc không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh
của họ. Đây chính là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ chế quản lý và
phải luôn hoàn thiện cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN.
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý thức,
tác phong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nớc. Vì khu vực
kinh tế NQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu t nhân, họ có quyền quyết
định phơng án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của Nhà nớc thông
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
8
qua pháp luật. Cán bộ công chức Nhà nớc không có quyền can thiệp vào công
việc kinh doanh của họ. Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD và công chức Nhà n-
ớc là quan hệ bình đẳng trớc pháp luật.
Đối với ngời lao động và những ngời quản lý sản xuất kinh doanh, câu
hỏi đặt ra là làm sao thu đợc lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến sản
xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá chất l-
ợng cao, giá thành hạ.
Quan hệ giữa ngời bán hàng dịch vụ và ngời mua hàng dịch vụ đợc thay
đổi từ quan niệm bán nh cho thời bao cấp bằng quan niệm coi khách hàng là
thợng đế đã đợc hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý
trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu vực
kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật khách
quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của Đảng
(tháng 6/1991) đã đánh giá: Chính sách này đợc nhân dân hởng ứng rộng rãi
và đã đi nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm
chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy đợc nhiều tiềm năng va sức sáng tạo của
nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và sản phẩm cho xã hội,
thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh
sống động trên thị trờng. Ngoài ra góp phần vào phát triển và tăng trởng kinh
tế ngoài quốc doanh có sự tham giam tích cực của các cơ quan quản lý trong
việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính đồng thời Nhà nớc đã ban
hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ
điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế xã hội của đất nớc nhằm khuyến
khích các thành phần kinh tế phát triển và lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã
hội.
3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế NQD và các chính sách
kinh tế của Nhà nớc
3.1.Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
9
Nớc ta đi lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm của
Mác - Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nớc ta vì giai
đoạn này là giai đoạn Nhà nớc của giai cấp công nhân đang đảm nhận nhiệm vụ
lịch sử phát triển sức sản xuất, một nhiệm vụ đáng lẽ ra giai cấp t bản phải làm.
Mặt khác do lực lợng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các ngành, các
vùng, vì vậy tất yếu tồn tại kinh tế NQD.
Tuy nhiên để có đợc nhận thức đúng đắn về sự tồn tại của các thành phần
kinh tế trong thời kỳ quá độ không phải là dễ dàng, đã có thời kỳ ta chủ trơng
sớm xoá bỏ kinh tế NQD bằng làn sóng quốc doanh hóa, hợp tác hoá, tạo nên
bức tờng ngăn cách giữa kinh tế XHCN và kinh tế NQD dẫn đến những hậu quả
tiêu cực làm cho tiềm lực kinh tế của đất nớc không đợc khai thác, lực lợng sản
xuất bị lãng phí, kinh tế bị kìm hãm không phát triển đợc, đời sống nhân dân
gặp khó khăn.
Qua đánh giá quá trình cải tạo các thành phần kinh tế và vận dụng luận
điểm của Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nớc ta. Đại hội đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trơng đổi mới toàn diện và sâu sắc để đi tới
CNXH một cách vững chắc. Trọng tâm là đổi mới kinh tế, mà trớc hết là đổi
mới t duy kinh tế. Điều quan trọng là phải nhận thức và tính toán lại hình thức,
và bớc đi của quá trình cải tạo XHCN, làm sao để phát huy đợc sức mạnh của
các thành phần kinh tế trong công cuộc xây dựng đất nớc giầu mạnh và cái đích
vẫn là CNXH. Từ những phê bình về những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ
ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, từ thực tế của đất nớc và vận dụng quan
điểm của Lênin coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trng của thời kỳ
quá độ, Đảng ta đã đề ra chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần
kinh tế khác. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ
đẩy mạnh cải tạo XHCN là một nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục trong suốt thời
kỳ quá độ đi lên CNXH với những bớc đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Cần phải phát huy tác
dụng tích cực của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
10
Đờng lối phát triển kinh tế nhiều thành phần còn đợc tiếp tục xác định tại
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX. Báo cáo chính trị tại Đại
hội Đảng CSVN lần IX khẳng định.
Kinh tế cá thể ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà
nớc tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức HTX tự
nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến khích phát
triển kinh tế t nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà
pháp luật không cấm. Tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp
lý để kinh tế NQD phát triển trên những hớng u tiên của Nhà nớc.
Ngoài ra còn nêu rõ ở nớc ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế t bản Nhà nớc.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế t bản t nhân.
+ Kinh tế Nhà nớc.
+ Kinh tế Hợp tác.
Thành phần kinh tế Nhà n ớc : là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở
hữu nhà nớc về t liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ số
vốn thuộc về Nhà nớc hoặc phần của Nhà nớc chiếm phần khống chế.
Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế nớc ta, đợc hình thành do Nhà nớc đầu t xây dựng các cơ sở kinh tế trong tất
cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn đợc hình
thành bằng con đờng quốc hữu hoá các xí nghiệp t nhân.
Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể,
gồm các dơn vị kinh tế do nhũng ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp sức
kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp tác
xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng. Những loại
hình hợp tác xã trên đợc hình thành với quy mô và mức độ khác nhau phù hợp
với sự phát triển của lực lợng sản xuất, yêu cầu của sản xuất và đời sống. Xu h-
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
11
ớng vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo hớng kinh thành những cơ
sở, tổ hợp kinh tế công nông nghiệp để đi lên sản xuất lớn.
Thành phần kinh tế t bản t nhân : là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t
hữu t bản chủ nghĩa và bóc lột lao động làm thuê, mặc dù không còn nguyên
nghĩa nh xã hội cũ. Nó tồn tại trong những ngành có lợi trong quốc kế dân sinh,
đợc Nhà nớc khuyến khích, kiểm soát và hớng theo con đờng kinh tế t bản Nhà
nớc.
Thành phần này bao gồm các đơn vị kinh tế phần lớn vốn của t nhân (cả
trong và ngoài nớc) đầu t, hoạt động dới hình thức xí nghiệp t doanh, hoặc công
ty cổ phần đợc luật pháp quy định. Thành phần này có u điểm mạnh về vốn, kỹ
thuật, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý. Nó có vai trò to lớn trong
việc phát triển lực lợng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập kinh tế quốc
dân, nâng cao đời sống.
Thành phần kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t hữu về
t liệu sản xuất và lao động của bản thân ngời sản xuất.
Đặc điểm cơ bản của thành phần kinh tế này là t liệu sản xuất và sức lao
động đợc kết hợp trực tiếp bởi cùng một chủ thể. Mặc dù ngời sản xuất đợc tự
do sản xuất kinh doanh, nhng vẫn chịu tác động trực tiếp của các thành phần
kinh tế khác và của thị trờng. Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt chặng đờng
đầu, thành phần kinh tế cá thể có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất dịch
vụ, t liệu sinh hoạt phục vụ đời sống và sản xuất. Kinh tế cá thể tồn tại độc lập,
có thể liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế của các thành phần kinh tế khác
bằng nhiều hình thức, hoặc tham gia hợp tác xã tự nguyện nếu ngời lao động
thấy cần thiết.
Thành phần kinh tế t bản Nhà n ớc: là thành phần kinh tế mà chủ thể của
nó là t bản Nhà nớc cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh; gồm các
đơn vị kinh tế ở các ngành, các lĩnh vực dới các hình thức công ty hợp doanh,
gia công, thuê tài sản Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ quá độ, đây là hình
thức kinh tế trung gian thích hợp nhất để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn ở nớc ta.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
12
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ
yếu: sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân. Ngoài ra, còn có những
hình thức tổ chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế nào nh hình
thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu công ty, xí nghiệp cổ phần, liên doanh,
liên kết hai bên và nhiều bên giữa các chủ thể, giữa các thành phần kinh tế trong
và ngoài nớc.
Trên giác độ nghiên cứu, có thể phân chia khu vực kinh tế trong nớc
thành hai khu vực nhỏ hơn: khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh cho phù hợp với những thuật ngữ đang đợc sử dụng phổ biến
trong nhiều văn bản của Nhà nớc và trong các cuộc hội thảo.
Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) và
thành phần kinh tế NQD là tính chất sở hữu về t liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế
quốc doanh dựa trên sở hữu của Nhà nớc, kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên sở
hữu t nhân, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa t nhân với tập thể hay giữa các
t nhân với nhau. Đảng và Nhà nớc ta qua các kỳ Đại hội đã khẳng định kinh tế
quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò mở đuờng
cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nớc trong thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội.
3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nớc để phát triển kinh tế NQD
Quán triệt đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng nêu tại đại hội Đảng Cộng
sản Việt nam lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII và Nghị quyết các hội nghị
Trung ơng. Nhà nớc đã nhanh chóng cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể
và luật hoá để thực hiện. Trớc hết cần phải đợc thể chế thành điều luật trong
hiến pháp, điều 15 Hiến pháp năm 1992 đã qui định Nhà nớc phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,
theo định hớng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu t nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: kinh tế ngoài
quốc doanh đợc chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, đợc thành lập
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
13
doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề
có lợi cho quốc kế dân sinh. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nớc là làm
cho dân giàu, nớc mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh
thần của nhân dân. Chính sách kinh tế của Nhà nớc còn nhằm giải phóng năng
lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nớc và xã hội đã chính thức thừa
nhận sự tồn tại của nền kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, nếu chỉ
công nhận khu vực kinh tế NQD tồn tại thôi thì cha đủ mà cần phải định hớng
cho khu vực kinh tế NQD phát triển theo đúng đờng lối của Đảng, đúng mục
đích đã định ra không để kinh tế NQD phát triển tự phát, chệch hớng. Vì vậy
cần tiếp tục thể chế đờng lối của Đảng, Hiến pháp thành những chính sách cụ
thể. Trong những năm qua Nhà nớc đã nghiên cứu, ban hành các chính sách cụ
thể tạo hành lang pháp lý cho kinh tế NQD phát triển, đồng thời liên tục chỉnh
lý cho các chính sách thật phù hợp với đời sống thực tiễn, khơi dậy mọi tiềm
năng của khu vực kinh tế này. Trong các chính sách đó đáng chú ý là:
- Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp t nhân đợc Quốc hội thông qua năm
1990 và đợc thay thế bằng Luật doanh nghiệp đợc Quốc hội khoá X thông qua
ngày 16/6/1999 và thống nhất thực hiện từ 1/1/2000.
- Luật doanh nghiệp ra đời qui định việc thành lập, tổ chức quản lý và
hoạt động của các doanh nghiệp. Từ Luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân
nay là Luật doanh nghiệp (Bao gồm các công ty Cổ phần, công ty TNHH, công
ty Hợp doanh và Doanh ngiệp t nhân) vừa thể hiện đợc tính nhất quán của Đảng
và Nhà nớc ta, vừa thể hiện sự phát triển về nhận thức và hành động nhằm
khuyến khích phát triển khu vực kinh tế này. So với Luật công ty, Luật doanh
nghiệp t nhân ban hành trớc đây, Luật doanh nghiệp mới có nhiều sửa đổi bổ
xung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống, tạo môi trờng thoáng cho doanh
nghiệp thành lập và hoạt động nên tuy mới chỉ sau một vài năm đã phát huy
những tác dụng to lớn.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét