Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
toán thay doanh nghiệp trong các giao dịch giữa doanh nghiệp với các chủ thể
khác.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế quốc
dân doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị
trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường lao động. Thông qua các thị trường này
doanh nghiệp có thể mua sắm máy móc, thiết bị, tuyển dụng lao động củng
như thoả mản các nhu cầu dịch vụ khác Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp cân
đối nguồn lực của mình để đầu tư một cách hiệu quả nhất. Mặt khác mối quan
hệ tài chính ở đây còn thể hiện thông qua việc doanh nghiệp cung cấp các
hàng hoá và dịch vụ của mình cho các doanh nghiệp khác. Các dòng hàng hoá
và dịch vụ vào và ra là cơ sở cho dòng tiền ra và vào tương ứng.
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản
xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa
quyền sử dụng vốn và quyền sở hửu vốn. Việc cân đối hợp lý dòng tiền trong
nội bộ doanh nghiệp đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt
hiệu quả cao nhất. Các mối quan hệ này thể hiện thông qua rất nhiều chính
sách của doanh nghiệp như: Chính sách phân phối thu nhập, chính sách về cơ
cấu vốn, về chi phí, chính sách đầu tư
1.1.2: Cơ sở hình thành và sự phát triển ngày một đa dạng quan hệ tài chính
trong doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế quốc dân có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong
các lĩnh vực khác nhau, trong mổi doanh nghiệp như vậy thì quá trình hoạt
động cũng có sự khác biệt. Điều đó tuỳ thuộc vào quy trình công nghệ và tính
chất hoạt động của doanh nghiệp. Cho dù có sự khác biệt như vậy tuy nhiên
có thể khái quát những nét chung nhất của doah nghiệp bằng quá trình chuyển
đổi hàng hoá và dịch vụ đầu vào và hàng hoá dịch vụ đầu ra. Để có quá trình
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
đó doanh nghiệp phải có một lượng tài sản nhất định, và lượng tài sản đó sẽ
được chu chuyển thông qua quá trình nêu trên.
Các hàng hoá và dịch vụ đầu vào (yếu tố sản xuất) là các hàng hoá và dịch
vụ mà doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất- kinh
doanh. Các hàng hoá và dịch vụ đầu vào sẽ được kết hợp với nhau để hình
thành nên sản phẩm đầu ra, đây có thể là thành phẩm hoặc có thể là bán thành
phẩm tuy nhiên nó được doanh nghiệp xác định là sản phẩm và được cung
cấp trên thị trường. Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giử có một loại
tài sản đặc biệt - đó là tiền, tài sản này là trung gian cho mọi hoạt động trao
đổi của doanh nghiệp. Sự dịch chuyển giữa các hàng hoá và dịch vụ tương
ứng sẽ là sự dịch chuyển tiền giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Như vậy tương ứng với các dòng vật chất đi vào (hàng hoá dịch vụ đầu
vào) sẽ là dòng tiền đi ra, ngược lại tương ứng với các dòng vật chất đi ra
( hàng hoá và dịch vụ đầu ra) sẽ là các dòng tiền đi vào. Đây chính là cơ sở
của các quan hệ tài chính. Doanh nghiệp thực hiện hoạt động trao đổi hoặc
với thị trường cung cấp hàng hoá dịch vụ đầu vào, hoặc với thị trường phân
phối tiêu thụ các hàng hoá dịch vụ đầu ra và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các quan hệ tài chính của doanh
nghiệp được phát sinh từ chính quá trình trao đổi đó. Quá trình này quyết định
sự vận hành của sản xuất và làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp luôn có tính mục đích, có thể là lợi nhuận, giá
trị gia tăng noặc những giá trị lợi ích nhất định. Về cơ bản người ta quan tâm
đến giá trị gia tăng mà tiền là công cụ quy đổi để đánh giá. Do đó tài chính
doanh nghiệp đóng vai trò to lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp bao gồm các quan hệ tài chính giữa
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
doanh nghiệp với các chủ thể khác, hoặc trong nội bộ doanh nghiệp. Các quan
hệ này đặc trưng bởi dòng tiền đi ra và đi vào tương ứng với dòng hàng hoá
và dịch vụ đi vào và đi ra. Trong một giai đoạn nhất định hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh phản ánh thông qua số dư của dòng tiền, điều đó
phản ánh lỗ lãi trong hoạt động của doanh nghiệp.
Quản lý tài chính giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, vì nó quyết định trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và nó có tác động chi phối đến các hoạt động quản lý
khác. Chính vì vậy, có thể nói hiệu quả của hoạt động quản lý tài chính quyết
định sự độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp.Một khi công tác quản lý tài
chính được tổ chức tốt nó không chỉ đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh
cho doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích cho các đối tác, bạn hàng hay
rộng hơn là đem lại lợi ích kinh tế xã hội trên phạm vi toàn quốc gia.
1.1.4. Các tỷ lệ và chỉ tiêu tài chính cơ bản trong tài chính doanh nghiệp.
1.1.4.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ
tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm
các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Hệ số thanh toán tổng quát =
Hệ số <1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bị
mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải
thanh toán
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
Hệ số thanh toán tạm thời =
Hệ số thanh toán tạm thời thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợ
ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
Hệ số thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa
vào việc phải bán vật tư hàng hoá
1.1.4.2. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính
Các doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn theo xu hướng hợp
lý (kết cấu tối ưu). Nhưng kết cấu này lại luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư.
Vì vậy nghiên cứu các hệ số nợ, hệ số tự tài trợ sẽ cung cấp cho các nhà
hoạch định chiến lược tài chính một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài
của doanh nghiệp.
Hệ số nợ =
Hệ số nợ là một chỉ tiêu tài chính phản ánh trong một đồng vốn hiện nay
doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn vay nợ.
Tỷ suất tự tài trợ = = 1 - Hệ số nợ
Tỷ suất tự tài trợ là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ
sở hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp.
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
1.1.4.3. Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
Các chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một
doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh
dưới các loại tài sản khác nhau.
Số vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân
luân chuyển trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá
càng tốt
=
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho.
Vòng quay các khoản phải thu =
Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh
nghiệp.
Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt.
Kỳ thu tiền trung bình =
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản
phải thu.
Vòng quay vốn lưu động =
Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được
mấy vòng.
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
=
Số ngày một vòng quay vốn lưu động phản ánh trung bình một vòng
quay hết bao nhiêu ngày.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Hiệu suất sử dụng vốn cố định phản ánh cứ đầu từ trung bình 1 đồng vào
vốn cố định thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
1.1.4.4. Nhóm các chỉ số sinh lời
Các chỉ số sinh lời luôn luôn được các nhà quản trị tài chính quan tâm.
Chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
trong một kỳ nhất định, là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh, và còn là
một luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính
trong tương lai.
Doanh lợi doanh thu =
Tỷ suất doanh lợi doanh thu thể hiện trong 1 đồng doanh thu mà doanh
nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận.
Doanh thu tổng vốn =
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn thể hiện 1 đồng vốn bình quân được sử dụng
trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Doanh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện 1 đồng vốn mà chủ sở hữu đầu tư
mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
Căn cứ vào 4 nhóm chỉ tiêu tài chính sử dụng trong phân tích hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, người phân tích có thể đánh giá tình hình tài
chính nói riêng và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Việc
tiến hành lựa chọn và sắp xếp các chỉ tiêu tuỳ theo góc độ nghiên cứu của nhà
phân tích và lập bảng để so sánh đánh giá.
1.2: Nội dung cơ bản về quản lý tài chính
1.2.1: Bản chất quản lý tài chính doanh nghiệp.
2
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn phản ánh
các quan hệ tài chính phát sinh, để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đạt hiệu quả mang lại những lợi ích nhất điịnh cho doanh nghiệp đòi
hỏi doanh nghiệp phải xử lý tốt các mối quan hệ này. Để làm được điều đó
doanh nghiệp phải giải quyết tốt ba vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất : Trên cơ sở loại hình sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp
sẻ lựa chọn nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp. Đây chính
là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp và củng là cơ sở để dự toán
vốn đầu tư.
Thứ hai: Lựa chọn nguồn vốn đầu tư có thể khai thác được và dự báo lượng
vốn có thể khai thác trong từng giai đoạn nhất định.
Thứ ba: Nhà quản lý tài chính phải xác định hoạt động tác nghiệp của mình
như thế nào? Đây chính là quyết định tài chính nhắn hạn và có mối quan hệ
chặt chẻ tới quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Trên đây là ba vấn đề quan trọng nhất và cốt lỏi nhất trong tài chính doanh
nghiệp. Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức
giải quyết ba vấn đề nêu trên.
2
Trích dẩn giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS TS Lưu Thị Hương-PGS TS Vủ Duy Hào NXB ĐH
Kinh Tế Quốc Dân 2006. Trang 13,14,15
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
Đối với mổi doanh nghiệp thì giữa sở hữu và quản lý luôn có sự khác biệt
nhất định, chủ sở hữu thường không phải là người trực tiếp quản lý mà thay
vào đó là các nhà quản lý được chủ sở hữu thuê làm đại diện cho mình. Trong
tình huống như vậy nhà quản lý chính là người phải trả lời cho ba vấn đề nêu
trên.
Doanh nghiệp để hoạt động vần có vốn để đầu tư vào các tài sản, muốn như
vậy doanh nghiệp phải giải quyết vấn đề vốn. Đó bao gồm vốn tự có của
doanh nghiệp, vốn doanh nghiệp phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu gọi
chung là vốn dài hạn. Mặt khác doanh nghiệp cũng có thể huy động vốn ngắn
hạn, Đây thường là vốn vay tín dụng trong thời hạn ngắn thường là 1 năm.
Câu hỏi đặt ra cho nhà quản lý tài chính là nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao
nhiêu khi đả xét đến vấn đề huy động vốn? Giải đáp cho vấn đề này là dự
toán vốn đầu tư- đó là quá trình kế hoạch hoá và đầu tư dài hạn của doanh
nghiệp. Như vầy để đảm bảo nguyên tắc sinh lợi doanh nghiệp phải xác định
được dự án đầu tư mang tính khả thi và đạt hiệu quả sinh lợi. Điều đó có
nghĩa là đầu tư vào một dự án mà thu nhập mang lại cao hơn chi phí phải bỏ
ra, tức là giá trị hiện tại của dòng tiền do các tài sản mang lại phải lớn hơn chi
phí bỏ ra để hình thành các tài sản đó.
Nhà quản lý tài chính không phải chỉ quan tâm đến dòng tiền trong tương
lai mà dự án mang lại là bao nhiêu mà rất quan trọng khác là họ phải quan
tâm là thời gian để thu được khoản thu nhập đó-để xác định vấn đề này người
quản lý cần xác dịnh thời gian thu hồi vốn nội bộ.
Khi nhà quản lý xác định được vấn đề thứ nhất thì vấn đề lại đặt ra là có
được vốn bằng cách nào để đầu tư dài hạn? Chủ sở hửu sẻ là người bỏ ra một
phần vốn của mình để đầu tư gọi là vốn tự có của doanh nghiệp, ngoài ra nhà
quản lý tài chính còn phải huy động vốn từ nhiều kenh khác nhau dựa trên
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
tình hình cụ thể của doanh nghiệp và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp
đó.
Vấn đề quan trọng cuối cùng là nhà quản lý tài chính quản lý tài sản ngắn
hạn của doanh nghiệp như thế nào? Hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn liên
quan chặt chẽ tới các dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ. Ngân quỹ là
một vấn đề vô cùng quan trọng của doanh nghiệp, nó đảm bảo khả năng chi
trả cho doanh nghiệp từ đó đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp, tránh
tình trạng xấu nhất xảy ra là sự phá sản của doanh nghiệp.
1.2.2. Đối tượng của quản lý tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1. Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của của tất cả các hao phí về mặt vật chất và về mặt lao động mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định.
3
- Phân loại chi phí sản xuất dựa trên lĩnh vực và địa điểm sữ dụng bao
gồm.
+ Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí tiền lương, tiền công, các
khoản tính nộp như quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ.
+ Chi phí sản xuất chung là chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản
xuất và kinh doanh, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phát
sinh trong quá trình hoạt động.
+ Chi phí bán hàng là những chi phí liên quan đến quá trình tiêu thụ
hàng hoá.
3
Trích dẩn giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS TS Lưu Thị Hương-PGS TS Vủ Duy Hào NXB ĐH
Kinh Tế Quốc Dân 2006. Trang 26.
Nguyễn Bính Dần QLKT 46A
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các chi phí cho bộ máy quản lý
và điều hành doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản trích nộp của bộ máy
quản lý và điều hành, chi phí về công cụ và dụng cụ, khấu hao TSCĐ phục vụ
cho bộ máy quản lý chung của doanh nghiệp, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi
phí bằng tiền khác.
- Phân loại chi phí sản xuất dựa trên mối quan hệ tỷ lệ với khối lượng
hàng hoá tiêu thụ.
+ Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi theo sự thay đổi của
khối lượng sản phẩm tiêu thụ.
+ Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi theo sự thay đổi của khối lượng sản
phẩm tiêu thụ.
- Ngoài ra chi phí sản xuất kinh doanh còn được chia thành chi phí cơ
bản và chi phí chung.
+ Chi phí cơ bản là những khoản chi phí chủ yếu cần thiết cho quá trình
tiêu thụ sản phẩm kể từ lúc nhập sản phẩm cho đến giai đoạn tiêu thụ. + Chi
phí chung là những khoản chi phí không liên quan trực tiếp đến quá trình tiêu
thụ sản phẩm.
Để quản lý tốt chi phí của doanh nghiệp cần phải xem xét cơ cấu chi phí
và xu hướng thay đổi kết cấu chi phí.
Kết cấu chi phí sản xuất kinh doanh là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí
trong tổng số các chi phí sản xuất kinh doanh.
Những nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu chi phí là đặc điểm sản xuất
chung của từng loại doanh nghiệp, của từng ngành kinh tế, loại hình có quy
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét