Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Cty Lương thực TP HCM chi nhánh tại Hà Nội


Chơng 1
Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh
và khả năng cạnh tranh của hàng hoá
trong nền kinh tế thị trờng.
1.1 cạnh tranh - đặc tr ng cơ bản của kinh tế thị tr ờng
1.1.1 Thị tr ờng - Kinh tế thị tr ờng - Cơ chế thị tr ờng
a. Thị tr ờng
Thị trờng xuất hiện và hoạt động gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản
xuất hàng hoá. Thị trờng, hiểu theo nghĩa đơn giản là nơi mua bán hàng hoá, là nơi
gặp gỡ để tiến hành các hoạt động mua bán giữa ngời bán và ngời mua. Mỗi loại
thị trờng đòi hỏi phải có:
Đối tợng trao đổi: Hàng hoá và dịch vụ
Đối tợng tham gia trao đổi: Ngời bán, ngời mua.
Điều kiện thực hiện trao đổi: Phơng thức thanh toán.
Trong quá trình trao đổi ( giữa bên bán và bên mua), trên thị trờng đã hình
thành những mối quan hệ giữa ngời bán và ngời mua, giữa những ngời bán hay ng-
ời mua với nhau. Chính những mối quan hệ này là cơ sở để xác định giá và số lợng
một loại hàng hoá nào đó.
Từ đó, có thể khái quát: Thị tròng là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà
thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các
quyết định của công ty về sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào và các quyết định
của các công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều đợc dung hoà bằng sự điều
chỉnh bằng giá cả.
6

Nh vậy thị trờng là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó những ngời mua và
ngời bán bình đẳng cung cạnh tranh. Thị trờng luôn diễn ra các hoạt động mua
bán và các quan hệ hàng hoá và tiền tệ, bao gồm cả những yếu tố không gian và
thời gian.
Có thể nói, thị trờng là môi trờng kinh doanh của các doanh nghiệp. Mỗi hoạt
động của doanh nghiệp đều phải chịu sự chi phối của thị trờng. Các doanh nghiệp
tìm kiếm trên thị trờng nhu cầu mà ngời tiêu dùng cần thiết, thông qua thị trờng để
trả lời các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp:
Sản xuất cái gì ?
Sản xuất nh thế nào ?
Sản xuất cho ai ?
Không chỉ có nh vậy, thị trờng còn là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Mục
tiêu hoạt động của mỗi doanh nghiệp là làm thế nào để thu đợc nhiều lợi nhuận
nhất. Các biện pháp và phơng thức mà các nhà kinh doanh áp dụng nh hạ gia
thành, giá bán, tăng sản lợng cũng là nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Doanh nghiệp
chỉ có thể hoạt động có hiệu quả khi mà tỷ trọng hàng hoá đợc tiêu thụ, sản xuất,
ngày càng lớn trên thị trờng.
Là môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp, thị trờng tồn tại khách quan, các
nhà sản xuất kinh doanh khó có khả năng làm thay đổi thị trờng, mà ngợc lại, họ
phải tìm cách thích ứng với nó. Thị trờng là một tấm gơng để các nhà doanh
nghiệp nhận biết nhu cầu xã hội và để đánh giá hiệu quả kinh doanh của chính bản
thân mình. Vì thế, để tổ chức hoạt động và kinh doanh có hiệu quả, các doanh
nghiệp cần hiểu rõ về đặc điểm của thị trờng mà mình tham gia.
b. Kinh tế thị tr ờng
Trên thị trờng luôn luôn có các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá. Một nền
kinh tế trong đó sản xuất và trao đổi hàng hoá diễn ra trên thị trờng một cách tự
7

nhiên, tuân theo các quy luật khách quan của thị trờng thì đợc gọi là nền kinh tế
thị trờng. Theo Kinh tế học thì Kinh tế thị trờng là một hình thức tổ chức
hoạt động kinh tế xã hội, trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con ngời và con
ngời đợc biểu hiện thông qua thị trờng, thông qua trao đổi mua bán hàng hoá quan
hệ hàng - tiền.
Cần phân biệt rõ kinh tế thị trờng với nền kinh tế mệnh lệnh mà trớc đây ở nớc
ta đã từng áp dụng. Đó là một nền kinh tế mà Chính phủ đề ra mọi quyết định về
sản xuất và tiêu thụ. Trong nền kinh tế mệnh lệnh, mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh đều do nhà nớc quyết định. Các cơ quan kế hoạch của Chính phủ sẽ quyết
định sản xuất cái gì? Sản xuất nh thế nào? Cho ai? Phân phối ra sao? Trong nền
kinh tế này, các quy luật kinh tế không đợc thừa nhận, do đó sự cạnh tranh giữa
các đơn vị, cơ sở cũng sẽ không có. Nhà nớc quyết định mọi vấn đề, từ sản xuất
đến phân phối, ngời tiêu dùng cũng sẽ không có cơ hội để lựa chọn cho mình
những thứ tốt nhất phù hợp với mình.
Ngợc lại với nền kinh tế mệnh lệnh, kinh tế thị trờng hoạt động theo sự dẫn dắt
của cơ chế thị trờng và các quy luật của nó. Trong nền kinh tế này, mọi quan hệ
kinh tế giá cả, biến động cung cầu đều do thị trờng quyết định, Nhà nớc không can
thiệp, các doanh nghiệp đợc tự do kinh doanh theo mục đích tối đa hoá lợi nhuận.
Trên thị trờng sự cạnh tranh diễn ra một cách mạnh mẽ và là một điều tất yếu, ng-
ời tiêu dùng có thể thoải mái lựa chọn một cách tốt nhấtnhững nhu cầu của mình.
Chính những nhân tố này đã tạo điều kiện và môi trờng cho sản xuất phát triển đa
tới sự tăng trởng về kinh tế và xã hội.
Tuy nhiên kinh tế thị trờng cũng không phải lúc nào cũng hoàn hảo, bản thân nó
cũng chứa đựng những khuyết tật không thể tự điều tiết đợc, cần phải có sự can
thiệp của Nhà nớc. Đó chính là nền kinh tế mà hiện nay ở nớc ta áp dụng: Nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
c. Cơ chế thị trờng :
8

Trong nền kinh tế thị trờng, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hoá của
ngời sản xuất và ngời tiêu dùng đều phải thông qua thị trờng và tuân theo một cơ
chế vận động của thị trờng đợc gọi là cơ chế thị trờng.
Nh vậy cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trờng, động lực và
quy luật chi phối sự vận động của thị trờng.
Sự tác động qua lại giữa ngời bán và ngời mua đợc xác định bởi giá cả, chất l-
ợng cũng nh số lợng một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó, qua đó mà xác định
việc phân bố và sử dụng tài nguyên của xã hội. Đây chính là nguyên tắc hoạt động
của cơ chế thị trờng.
Cơ chế thị trờng có một số đặc điểm sau:
1. Cơ chế thị trờng hoạt động không có sự kiểm soát và can thiệp trực tiếp của
Nhà nớc. Trong cơ chế này không tồn tại những hình thức quản lý bằng
mệnh lệnh của Chính phủ. Nhà nớc đảm bảo thực hiện chức năng quản lý vĩ
mô nền kinh tế thông qua công cụ pháp luật, tài chính, kinh tế
2. Trong nền kinh tế vận hànhtheo cơ chế thị trờng sẽ có sự tồn tại của nhiều
thành phần kinh tế đợc Nhà nớc thừa nhận. Các thành phần sản xuất và kinh
tế đều có quyền tự do kinh doanh.
3. Cơ chế thị trờng thúc đẩy cạnh tranh, phát huy đợc tính chủ động sáng tạo
buộc mỗi nhà sản xuất kinh doanh phải tính toán lựa chọnphơng án kinh
doanh tối u, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
4. Cơ chế thị trờng có tính tự phát cao, khả năng tự điều tiết cha mạnh do vậy
sẽ dẫn tới sự khủng hoảng về kinh tế, lạm phát, sự mất công bằng xã hội.
5. Đặc trng nổi bật nhất của cơ chế thị trờng là hệ thống các quy luật kinh tế
mà mội hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hoá trên thị trờng đều phải tuân
theo. Các quy luật này tởng chừng nh độc lập với nhau song lại có mối liên
9

hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau, quy định cơ chế hoạt động của thị tr-
ờng.
1.1.2 Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng.
a. Khái niệm:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại
hàng hoá nào đó trên thị trờng đều phải chấp nhận cạnh tranh. Đây là một điều tất
yếu và là đặc trng cơ bản nhất của cỏ chế thị trờng. Cạnh tranh phát triển cùng với
sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá t bản chủ nghĩa. Vậy cạnh tranh là gì ?
Theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh), cạnh tranh trong cơ chế
thị trờng đợc định nghĩa là sự ganh đua, sự kỳ địch giữa các nhà kinh doanhnhằm
tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình.
Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các
doanh nghiệp trong việc giành giật thị trờng và khách hàng.
Cạnh tranh là một phơng thức vận động của thị trờng. Nói đến thị trờng cũng có
nghĩa là nói tới sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế. Không có cạnh tranh thì
không có nền kinh tế thị trờng. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi
ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trờng. Đối với ngời mua, họ muốn mua đ-
ợc loại hàng hoá có chất lợng cao, với mức giá rẻ. Còn ngợc lại, các doanh nghiệp
bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuạn của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải
giảm chi phí và tìm cách giành giật khách hàng và thị trờng về phía mình. Và nh
vậy, cạnh tranh sẽ xảy ra.
Cạnh tranh là một điều tất yếu của thị trờng. Các doanh nghiệp bắt buộc phải
chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng tiến bộ để giành
đợc u thế tơng đối so với đối thủ. Nếu nh lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ
phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất
10

nhằm thu đợc lợi nhuận tối đa. ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế,
cạnh tranh đợc thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và đợc coi nh là một
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh trong từng doanh nghiệp.
b. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr ờng.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, khái niệm cạnh tranh hầu nh không tồn tại,
song từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trờng thì cũng
là lúc cạnh tranh và quy luật cạnh tranh đợc thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày
càng đợc thể hiện rõ nét hơn:
1. Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối u
2. Khuyến khích áp dụng cá tiến bộ khoa học kỹ thuật.
3. Thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
4. Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả
kinh tế .
5. Phân hoá doanh nghiệp mạnh hơn.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh:
Cạnh tranh là một điều bất khả năng trong nền kinh tế thị trờng. Các doanh
nghiệp, các nhà sản xuất khi tham gia thị trờng buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh.
Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể
lẩn tránh và phải tìm mọi cachs để vơn lên, chiếm u thế.
Mục tiêu trớc hết của một doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận chỉ
có đợc khi mà bán đớcản phẩm hàng hoá của mình. Lợng bán càng nhiều thì lợi
nhuận càng lớn. Điều này phụ thuộc nhiều vào ngời tiêu dùng. Ngời tiêu dùng có
quyền lựa chọn những gì mà mình thích, những gì mà họ cho là tốt nhất, phù hợp
nhất. Đó là một đặc điểm cơ bản của cơ chế thị trờng. Nh vậy cạnh tranh buộc các
nhà sản xuất phải luôn tìm cách nâng cao chất lợng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng
11

yêu cầu của khách hàng, của thị trờng. Mặt khác, cạnh tranh có khả năng tạo ra
một áp lực liên tục đối với giá cả. Để thu hút khách hàng, bao giờ các đối thủ cạnh
tranh cũng tìm cách đa ra mức giá thấp nhất có thể, chính điều này đã bắt buộc các
nhà sản xuất phải lựa chọn phơng án sản xuất tối u với mức chi phí nhỏ nhất, công
nghệ hiện đại nhất.
Ngày nay, xu thế cạnh tranh về chất lợng sản phẩm cao ngày càng tăng vì thế
các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, cải tiến quản lý và phơng thức sản xuất kinh doanh. Nh vậy là cạnh tranh đã
khuyến khích áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc doanh nghiệp
phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong phạm vi doanh nghiệp để giảm giá
thành, giảm giá bán, nâng cao chất lợng sản phẩm, đảm bảo hoạt động có hiệu
quả, giành đợc u thế trên thị trờng.
Đối với nền kinh tế - xã hội
Đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế,
nâng cao năng suất lao động xã hội.
Trên thị trờng, các cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng
gay gắt thì ngời đợc nhiều lợi nhuận nhất chính là khách hàng. Khi có cạnh tranh,
ngời tiêu dùng không thể bị bóc lột, các đối thủ cạnh tranh do sự giành giật thị tr-
ờng và khách hàng nên luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lợng và hạ giá bán sản
phẩm, khi đó, ngời tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất, phù hợp
nhất. Trong cuộc cạnh tranh này, ngời sản xuất và ngời tiêu dùng không thể lợi
dụng u thế của nhau trên thị trờng. Lúc đó, cạnh tranh còn là một lực lợng điều tiết
trên thị trờng.
Cạnh tranh loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất, điều này
buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phơng án sản xuất có chi phí thấp nhất. Đó
cũng chính là quy luật của thị trờng: cạnh tranh là động lực, là bàn tay vô hình của
thị trờng (Adam Smith). Vì vậy cạnh tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm
12

kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của ngời tiêu dùng
và lợi ích xã hội.
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã thừa nhận cạnh tranh và coi ctvà coi
cạnh tranh không chỉ là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn là yếu tố
quan trọng việc lành mạnh các quan hệ kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn là những u điểm, mà còn có cả những
khuyết tật cố hữu mang đặc trng của cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng bắt buộc
các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp quan tâm trớc hết là lợi ích của bản
thân mình, không chú ý tới việc giải quyết các vấn đề xã hội từ đó xuất hiện những
mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa các doanh nghiệp và sẽ kéo theo các vấn đề xã hội
nh nạn thất nghiệp, tiền công rẻ mạt, môi trờng sinh thái bị huỷ hoại
Cạnh tranh, một mặt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển và mặt khác nó cũng dẫn
tới tình trạng phân hoá ghê gớm, kẻ thắng ngời thua, dễ dàng đa tới tình trạng
cạnh tranh không lành mạnh hay là tình trạng độc uyền trên thị trờng. Chính điều
này đòi hỏi cần phải có sự quản lý của Nhà nớc, đảm bảo cho các doanh nghiệp có
thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh, có hiệu quả.
1.2 các yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trờng và thị
trờng ngày càng đợc mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh
tranh trên thị trờng. Cái đó chính là khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh
nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trờng cạnh tranh,
13

đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực
hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều mặt. Các doanh nghiệp
phải luôn luôn đa ra các phơng án, các giải pháp tối u nhất để giảm chi phí sản
xuất để từ đó giảm giá thành, giá bán, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, nâng cao hiệu quả quản lý để nâng cao chất lợng sản phẩm, tổ chức tốt mạng
lới bán hàng và biết chọn đúng thời điểm bán hàng nhằm thu hút đợc khách hàng,
mở rộng thị trờng.
Chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp
là thị phần mà doanh nghiệp đã chiếm đợc. Thị phần càng lớn có nghĩa là khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Để tồn tại và có sức cạnh tranh,
doanh nghiệp phải chiếm giữ đợc một phần thị trờng bất kể nhiều hay ít, chính
điieù này đã phản ánh đợc quy mô tiêu thụ của doanh nghiệp. Qua đó ta cũng có
thể đánh giá đợc khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, u thế cũng nh các
điểm mạnh, điểm yếu tơng đối của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh
trong ngành.
Tăng khả năng cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi doanh nghiệp hoạt động
trong cơ chế thị trờng.
1.2.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh h ởng đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
a. Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm
Điều quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
là phải trả lời đợc những câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì ? Sản xuất cho ai ? Sản
xuất nh thế nào ? và nh vậy có nghĩa là doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một
chính sách sản phẩm. Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trờng mà
lại không có sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình. Vấn đề đặt ra
cho các doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình thích ứng đợc với thị tr-
14

ờng một cách nhânh chongs thì mới có thể tiêu thụ hết trên thị trờng, mở rộng thị
trờng, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trờng, doanh nghiệp phải thực hiện
đa dạng hoá sản phẩm. Đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là để đảm bảo đáp ứng đ-
ợc nhu cầu thị trờng, thu nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rỉu ro
trong kimh doanh khi mà cuộc cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt quyết liệt.
Đi đôi với việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thẻ thực hiện trọng tâm hoá sản
phẩm vào một số loại sản phẩm cung cấp cho một nhóm ngời hoặc một vùng thị
trờng nhất định của mình.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện chiến lợc khác biệt hoá sản
phẩm, tạo ra các nét độc đoá riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách
hàng vào các sản phẩm của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Nh vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm tối u là một trong những yếu ý
quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng .
b. Yếu tố giá cả
Giá của một sản phẩm trên thị trờng đợ hình thành thông qua quan hệ cung cầu.
Giá cả đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng có sự cạnh tranh của doanh nghiệp, khách hàng là th-
ợng đế họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất và cùng một loại sản
phẩm với chất lợng tơng đơng nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn,
khi đó sản lợng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Giá cả đợc thể hiện nh một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá của sản
phẩm: Định giá thấp, định giá ngang thị trờng hay là chính sách định giá cao.
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét