- Đối với thế chấp tín dụng và bán đấu giá công khai: Cở sở của thẩm
định giá là giá trị thị trường.
- Đối với hợp đồng bảo hiểm hoả hoạn: Cơ sở của thẩm định giá là
giá trị phi thị trường, cụ thể là chi phí phục hồi nguyên trạng hay những cơ
sở khác được nêu ra trong hợp đồng bảo hiểm hoả hoạn, phù hợp với những
quy định của bảo hiểm. Trong trường hợp cụ thể thẩm định viên sẽ tiến hành
thẩm định giá trên cơ sở giá trị bồi thường thiệt hại.
- Đối với kế toán công ty và các báo cáo tài chính: Cơ sở thẩm định
giá được xác định như sau:
- Đối với tài sản thông thường (không chuyên dùng) với mục đích
phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở thẩm định giá là giá trị thị
trường đối với giá trị sử dụng còn lại hiện tại của tài sản đó.
- Đối với tài sản chuyên dùng để phục vụ mục đích sản xuất kinh
doanh không có bán phổ biến trên thị trường, cơ sở thẩm định giá là giá trị
phi thị trường, cụ thể là chi phí thay thế khấu hao. Mặc dù chi phí thay thế
khấu hao là giá trị phi thị trường, nhưng đối với việc thẩm định giá cho mục
đích báo cáo tài chính nó được coi thay thế giá trị thị trường, được chấp
nhận như giá trị thị trường.
- Đối với tài sản đầu tư hay những tài sản dôi ra so với yêu cầu của
doanh nghiệp (tài sản không cần dùng), cơ sở của thẩm định giá là giá trị thị
trường.
- Đối với việc mua bán: Cơ sở thẩm định giá là giá trị thị trường
- Đối với mục đích sát nhập bắt buộc theo quy định của Nhà nứơc: Cơ
sở thẩm định giá tuân theo những quy định của Nhà nước phù hợp với nền
kinh tế thị trường. Tuỳ theo từng nội dung cụ thể của thẩm định giá mà lựa
chọn cơ sở thẩm định giá thị trường hay phi thị trường.
- Đối với mục đích tính thuế tài sản: Cơ sở thẩm định giá là giá trị phi
thị trường, cụ thể cơ sở thẩm định giá là những quy định của Nhà nước có
liên quan đến việc tính thuế tài sản.
- Thẩm định giá với các mục đích khác: Cơ sở thẩm định giá là giá trị
thị trường. Nếu thẩm định viên sử dụng cơ sở thẩm định giá khác không
phải là giá trị thị trường thì phải giải thích lý do của việc sử dụng những cơ
sở này trong báo cáo thẩm định giá.
Mục đích thẩm định giá có ảnh hưởng đến lựa chọn cơ sở thẩm định
giá. Xác định chính xác mục đích thẩm định giá giúp thẩm định viên tránh
được việc lựa chọn cơ sở thẩm định giá không đúng, qua đó áp dụng phương
pháp thẩm định giá không thích hợp, dẫn đến việc thẩm định giá không đúng
với mục đích được yêu cầu.
Thẩm định viên xác định mục đích và cơ sở thẩm định giá thẩm định
giá dựa trên văn bản đề nghị thẩm định giá của khách hàng, dựa trên kinh
nghiệm, hiểu biết và trình độ của mình và phải giải thích, trình bày rõ ràng
đầy đủ trong báo cáo thẩm định giá.
2/ Những mục đích thẩm định giá máy móc thiết bị chủ yếu
- Mua bán thông thường
- Trao đổi tài sản
- Thế chấp
- Tính thuế
- Giải quyết tranh chấp
- Đấu thầu, đấu giá
- Thẩm định giá trị dự toán đầu tư
- Khi máy móc thiết bị cần mua bán.
- Giúp người bán quyết định mức giá chấp nhận được.
- Giúp người mua quyết đinh giá mua hợp lý.
- Trao đổi tài sản thiết bị mà các bên cần biết giá trị của tài sản thiết bị
có liên quan.
- Đi vay và cho vay.
- Để biết giá trị an toàn của tài sản khi thế chấp vay tiền.
- Để đảm bảo tài sản của khách hàng.
- Góp vốn.
- Hạch toán kế toán.
- Các mục đích khác
Những mục đích thẩm định giá chủ yếu của Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, thẩm định giá được thực hiện theo yêu cầu của Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các cá nhân nhằm các mục đích:
- Cổ phần hoá:
Khác với nhiều nước khác do máy thiết bị thuộc sở hữu Nhà nước
nhiều: Nhà nước vừa là người mua vừa là người bán lớn nhất. Đây là mục
đích rất quan trọng trong thẩm định giá nói chung và thẩm định giá máy,
thiết bị nói riêng trong giai đoạn hiện nay, nhằm góp phần thực hiện tốt tiến
trình đổi mới doanh nghiệp của nhà nước ta.
Ngoài ra việc thẩm định thường được thực hiện cho các mục đích:
- Liên doanh thành lập hoặc giải thể doanh nghiệp.
- Mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, vay vốn ngân hàng.
- Hạch toán, kế toán, tính thuế.
- Bảo hiểm.
- Xử lý tài sản trong các vụ án.
- Mục đích khác.
Và tại Điều 13 mục III Pháp lệnh giá phần nói về thẩm định giá đã
quy định rõ:
- Tài sản của Nhà nước cho thuê, chuyển nhượng và bán góp vốn và
các hình thức chuyển quyền khác.
- Tài sản của doanh nghiệp Nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán,
góp vốn cổ phần hoá, giải thể các hình thức khác.
V. QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH GIÁ MÁY MÓC, THIẾT BỊ
1. Khái niệm:
Quy trình thẩm định giá là một kế hoạch thực hiện có tổ chức và
logic, được sắp xếp phù hợp với các quy tắc cơ bản đã được xác định rõ, nó
giúp cho nhà thẩm định giá có thể đưa ra một kết luận ước tính giá trị có cơ
sở và có thể tin tưởng được.
2. Quy trình thẩm định giá:
Nhìn chung, qui trình thẩm định giá máy móc thiết bị tương tự như
qui định thẩm định giá các loại tài sản khác nhưng nội dung cụ thể của các
bước cần được điều chỉnh phù hợp với việc thẩm định giá máy thiết bị.
2.1. Xác định vấn đề (xác định tổng quát về tài sản cần thẩm định
giá và cơ sở thẩm định giá).
- Nghiên cứu, khảo sát thực tế máy móc, thiết bị, qua đó ghi nhận các
đặc trưng về kỹ thuật, công dụng; đặc điểm pháp lý của máy móc, thiết bị.
- Xác định mục đích thẩm định giá và các nguồn tài liệu cần thiết nào
phục vụ cho công việc thẩm định giá.
- Ngày có hiệu lực của việc thẩm định giá, mức thu tiền dịch vụ thẩm
định giá (sau khi thoả thuận với khách hàng) và thời gian hoàn thành báo
cáo thẩm định.
- Hợp đồng thẩm định giá: cần thảo luận mục đích, nội dung, phạm vi,
đối tượng thẩm định giá đã được ghi nhận trong hợp đồng thẩm định giá,
nhằm tránh việc khiếu nại, không chấp nhận kết quả thẩm định sau này.
2.2. Lập kế hoạch thẩm định giá
- Cần có kế hoạch, trình tự thu thập tài liệu trên thị trường làm cơ sở
để so sánh, cụ thể là nguồn tài liệu đúng đắn, đáng tin cậy, chính xác.
- Cần có kế hoạch phân tích tài liệu thu thập được, tài liệu nào có thể
sử dụng được và tài liệu nào không sử dụng được.
- Lập đề cương báo cáo thẩm định giá và chứng thư (văn bản trả lời)
kết quả thẩm định giá .
- Lên lịch thời gian về tiến độ thực hiện kế hoạch phù hợp, để có hoàn
thành báo cáo thẩm định đúng thời hạn cho khách hàng.
2.3. Thu thập số liệu thực tế (khảo sát hiện trường nếu có)
- Thu thập các thông tin về giá trên thị trường thế giới và thị trường
trong nước liên quan đến tài sản, hàng hoá cần thẩm định giá.
- Cần phân biệt nguồn tài liệu theo thứ tự chủ yếu và thứ yếu, các tài
liệu chi tiết thuộc từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể như: kỹ thuật, kinh tế,
khoa học, xã hội
- Phân tích, xác minh, so sánh số liệu trong hồ sơ thẩm định giá với
những thông tin về giá thu thập được, tài liệu nào có thể so sánh được và tài
liệu nào không so sánh được.
- Điều quan trọng là các tài liệu thu thập được phải được kiểm chứng
thực tế và cần được giữ bí mật, không được phép công khai.
- Trong trường hợp cần thiết tiến hành khảo sát thực trạng tài sản.
2.4. Vận dụng số liệu thực tế và phân tích.
- Phân tích thị trường: Các vấn đề của thị trường ảnh hưởng đến giá trị
tài sản cần thẩm định giá (cung cầu, lạm phát, độc quyền mua, độc quyền
bán )
- Phân tích tài sản: Các tính chất và đặc điểm nổi bật của của tài sản
ảnh hưởng đến giá trị tài sản như: xác định mức độ hao mòn của tài sản: cần
xác định các đặc điểm kỹ thuật, tính chất và hiện trạng của tài sản để xác
định chất lượng còn lại do hao mòn hữu hình và vô hình.
- Phân tích so sánh về các đặc điểm có thể so sánh được của tài sản,
lựa chọn thông tin phù hợp nhất làm cơ sở thẩm định giá.
2.5. Xác định giá trị tài sản thẩm định giá .
Mục đích của bước này là dự kiến kết quả thẩm định giá tài sản
một cách hợp lý nhất:
- Căn cứ mục đích, loại tài sản và các thông tin thu thập được,
lựa chọn phương pháp thẩm định giá phù hợp.
- Tính toán và dự kiến kết quả thẩm định giá
2.6. Lập báo cáo và chứng thư thẩm định giá.
Nội dung của báo cáo thẩm định giá phụ thuộc vào bản chất và mục
đích của công việc thẩm định giá. Báo cáo thẩm định giá là sản phẩm của
toàn bộ công việc thẩm định giá, là kết quả của những nỗ lực và kỹ năng
nghề nghiệp của nhà thẩm định giá. Báo cáo kết quả thẩm định giá do
thẩm định viên về giá lập theo qui định tại tiêu chuẩn số 04 ban hành kèm
theo Quyết định số 24/2005/QĐ-BTC ngày 18-4-2005 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính về việc ban hành 03 tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam. Kết
thúc bước này, doanh nghiệp thẩm định giá, tổ chức có chức năng thẩm
đinh giá phải thông báo bằng văn bản kết quả thẩm định giá của mình đến
khách hàng bằng chứng thư thẩm định giá.
VI. KHẤU HAO MÁY, THIẾT BỊ:
Chúng ta biết rằng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, máy,
thiết bị là tài sản cố định của doanh nghiệp, có thể tham gia vào nhiều chu
kỳ sản xuất kinh doanh. Trong quá trình đó máy, thiết bị vẫn giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu nhưng giá trị hao mòn dần và được chuyển dần
từng bộ phận vào giá trị sản phẩm dưới hình thức khấu hao. Bộ phận chuyển
dịch của máy móc thiết bị này là một yếu tố chi phí sản xuất của doanh
nghiệp và được bù đắp khi sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường.
Tuy nhiên không phải loại máy móc nào cũng là tài sản cố định của
doanh nghiệp để được trích khấu hao, mà chỉ những loại thoã mãn đồng thời
cả hai tiêu chuẩn dưới đây:
- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên.
- Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định. Mức giá trị này thường
xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế
nhất định. Ở nước ta hiện nay quy định giá trị tối thiểu cho máy móc để
được trích khấu hao là 10 triệu đồng.
Những máy, thiết bị thoã mãn cả 2 điều kiện trên thì sẽ được trích
khấu hao theo chế độ hiện hành của Bộ Tài Chính.
Để hiểu về khấu hao và trích khấu hao ta lần lượt nghiên cứu các các
nội dung sau:
1.1 Nguyên giá Máy móc thiết bị:
Định nghĩa:
Nguyên giá tài máy móc thiết bị là toàn bộ các chi phí mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để có móc thiết bị tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng, bao gồm:
- Giá mua thực tế cùa máy móc
- Các chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử.
- Laĩ vay ngân hàng (phần vay để mua máy thiết bị nếu có)
- Thuế và các khoản phải nộp (Lệ phí trước bạ )
1.2 Hao mòn
Khái niệm:
Hao mòn của máy móc là sự giảm dần về giá trị của máy móc do tham
gia vào hoạt động kinh doanh. Hao mòn do bào mòn của tự nhiên là hao
mòn hữu hình, hao mòn do tiến bộ của kỹ thuật là hao mòn vô hình. Giá trị
giảm dần do hao mòn được chuyển dịch dần dần vào sản phẩm hoàn thành.
Hao mòn vô hình có thể có do các trường hợp sau:
- Năng suất lao dộng nâng cao, nên người ta có thể sản xuất được máy
móc mới có tính năng tác dụng như máy cũ nhưng giá rẻ hơn.
- Do kỹ thuật cải tiến người ta sản xuất được loại máy mới tuy giá trị
bằng máy cũ nhưng có công suất cao hơn.
1.3 Khấu hao móc thiết bị:
Khái niệm:
Là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của
máy móc thiết bị vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng
của máy móc thiết bị.
Trong quá trình sản xuất, máy móc thiết bị sử dụng bị hao mòn hữu hình,
vô hình và chuyển dịch dần giá trị vào sản phẩm hoàn thành. Bộ phận giá trị
này là một yếu tố chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, biểu hiện
dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao máy móc thiết bị. Sau khi sản
phẩm được tiêu thụ, số tiền khấu hao được trích để bù đắp lại dần dần và
tích luỹ thành quỹ khấu hao.
Giá trị của bộ phận máy móc tương ứng với mức hao mòn chuyển
dịch dần vào sản phẩm gọi là chi phí khâú hao của máy móc thiết bị.
1.3.1. Ý nghĩa của việc tính toán khấu hao chính xác
- Giúp cho việc tính giá thành, phí lưu thông và xác định lãi lỗ của
doanh nghiệp được chính xác.
- Có tác dụng đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản suất mở rộng
máy móc, thiết bị của doanh nghiệp.
- Trong công tác thẩm định giá giúp thẩm định viên xác định chính
xác thời gian còn lại phải tính khấu hao của máy thiết bị, qua đó ước tính
được chất lượng còn lại của máy thiết bị để phục vụ công tác thẩm định giá.
1.3.2. Các phương pháp tính khấu hao:
Việc lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp là việc làm hết sức quan
trọng để có được nguồn vốn nhằm bù đắp hao mòn, đầu tư mua mới máy
móc thiết bị phục vụ sản xuất.
a/ Phương pháp khấu hao tuyến tính cố định
Công thức tính:
Trong đó: KH: Mức trích khấu hao trung bình hàng năm.
NG: Nguyên giá của máy móc thiết bị.
Nsd: Thời gian sử dụng của máy móc thiết bị (năm)
Tỷ lệ khấu hao bình quân năm =
NG
KH
*100%
=
NG
Nsd
NG
*100%
=
Nsd
1
*100%
Ưu điểm :
Mức khấu hao được phân bổ vào giá thành một cách đều đặn
làm cho giá thành sản phẩm được ổn định.
Nsd
NG
KH =
Số tiền khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng đủ để bù đắp giá trị
ban đầu của máy móc thiết bị.
Cách tính này đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra.
Nhược điểm:
Do mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm được trích một
cách đồng đều, nên khả năng thu hồi vốn chậm, nhiều trường hợp không
phản ánh đúng lượng hao mòn thực tế của máy móc thiết bị,đặc biệt đối với
những máy móc thiết bị có tỷ lệ hao mòn vô hình lớn.
Nhận xét: Luỹ kế số tiền khầu hao đến năm cuối cùng luôn luôn bằng
nguyên giá của tài sản.
Để khắc phục hao mòn vô hình, có thể khấu hao nhanh theo 2 phương pháp dưới đây,
nhằm thu hồi vốn nhanh để tái tạo máy móc mới hiện đại hơn, có công suất cao hơn.
a/ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
- Công thức tính
Số tiền khấu
hao hàng năm
= Giá trị còn lại của máy thiết bị * Tỉ lệ khấu hao
Trong đó:
Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp này thường lớn hơn tỷ lệ khấu hao
của phương pháp đường thẳng, cụ thể:
Tỷ lệ khấu hao
= Tỉ lệ khấu hao BQ theo
phương pháp tuyến tính
* Hệ số
+ Hệ số cụ thể phụ thuộc vào thời hạn sử dụng máy móc:
- “ Đến 4 năm: hệ số 1,5
- “ Từ trên 4 năm đến 6 năm: hệ số 2
- “ Từ trên 6 năm trở lên: hệ số 2,5.
Đặc điểm:
Theo phương pháp này, số tiền trích khấu hao hàng năm được giảm
dần theo bậc thang luỹ thoái. Số tiền trích khấu hao nhiều ở những năm đầu
và giảm dần ở những năm sau. Lạm phát càng cao thì người ta dùng tỉ lệ
khấu hao càng lớn để tránh thiệt hại cho doanh nghiệp.
- Ưu điểm:
Có khả năng thu hồi vốn nhanh, khắc phục được hao mòn vô hình của máy
móc thiết bị.
- Nhược điểm:
- Số tiền khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng không đủ bù đắp giá trị
ban đầu của máy móc. Do vậy, thường đến nửa năm cuối thời gian phục vụ
của máy móc thiết bị, người ta trở lại dùng phương pháp khấu hao tuyến tính
cố định.
- Cách tính phức tạp, hệ số khó xác định chính xác.
- Mức khấu hao khác nhau giữa các năm nên phân bổvào giá thành
sản phẩm không ổn định.
Nhận xét: Tổng của luỹ kế số tiền khấu hao với giá trị còn lại đến năm
cuối cùng luôn luôn bằng nguyên giá của tài sản. điều này giúp có thể kiểm
tra được việc tính toán số tiền khấu hao hàng năm của chúng ta có đúng hay
không ?
c) Phương pháp khấu hao tổng số:
- Công thức tính :
Số tiền khấu hao hàng năm = NG máy móc thiết bị * Tỷ lệ khấu hao mỗi năm.
Trong đó:
Tỷ lệ khấu hao mỗi năm = số năm phục vụ còn lại của máy, thiết bị/ tổng
số của dãy số thứ tự (từ 1 cho đến số hạng bằng thời hạn phục vụ của máy).
Theo phương pháp này thì tỉ lệ khấu hao mỗi năm khác nhau và giảm dần.
Ưu điểm :
- Giống phương pháp 2: Thu hồi vốn nhanh hơn phương pháp 1, hạn
chế được hao mònvô hình
-Khắc phục được nhược điểm củaphương pháp 2: Số khấu hao luỹ kế
đến năm cuối cùng đủ bù đắp giá trị ban đầu củâmý móc thiết bị.
- Số khấu hao được trích luỹ kế đến nămcuối cùng đủ bù đắp giá trị
ban đầu của máy móc.
Nhược điểm:
- Cách tính phức tạp
- Mức khấu hao khác nhau giữa các năm nên phân bổ vào giá thành
sản phẩm không ổn định.
Nhận xét:
Tổng tỉ lệ khấu hao tất cả các năm luôn luôn bằng 100%. đây là kết
quả để có thể kiểm tra xem việc tính tỉ lệ khấu hao mỗi năm của chúng ta có
đúng hay không?
d, Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
Căn cứ:
- Hồ sơ tài sản, xác định số lượng/khối lượng sảnphẩm theo công suất
thiết kế:
Công thức:
Mức trích khấu hao
trong tháng
= Số lương Sp.Sx
trong tháng
x Mức trích khấu hao bình
quân tính cho 1 đơn vị SP
Mức trích khấu hao bình quân = . Nguyên giá .
tính cho một đơn vị sản phẩm Số lượng theo công suất thiết kế
VII. CÁC PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH GIÁ MÁY MÓC, THIẾT BỊ
Việc lựa chọn phương pháp thẩm định giá là một vấn đề quan trọng
trong thực hành thẩm định giá máy, thiết bị . Để lựa chọn được phương pháp
thẩm định giá phù hợp, phải căn cứ vào các yếu tố sau:
- Loại tài sản là máy, thiết bị cần thẩm định giá
- Nguồn thông tin liên quan thu thập được cũng như mức độ tin cậy
của các thông tin và khả năng sử dụng các tài liệu trên thị trường vào công
việc thẩm định gía
- Mục đích của công việc thẩm định giá: để mua bán, cho thuê, tính
thuế, để bảo hiểm hay để đầu tư mới,
Các phương pháp thẩm định giá là máy, thiết bị được giới thiệu trong
chuyên đề này bao gồm:
- Phương pháp so sánh trực tiếp
- Phương pháp chi phí
- Phương pháp thu nhập
Nội dung cụ thể của từng phương pháp được trình bày như sau:
1. Phương pháp so sánh trực tiếp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét