Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 5
Hình 1: Sơ đồ quy hoạch KCN dòch vụ thuỷ sản Thọ Quang - Đà Nẵng
1.2. Hiện trạng khu vực
Hiện nay trên đòa bàn thành phố có 14 doanh nghiệp chế biến đông lạnh với
công suất 47 tấn/ngày. Tổng dung lượng kho bảo quản lạnh khoảng 8.500m
3
. Hầu
hết sản phẩm đều được xuất khẩu và thò trường xuất khẩu đang được mở rộng sang
các nước có yêu cầu chất lượng sản phẩm cao như Mỹ, EU, Nhật. Quy trình sản
xuất của các nhà máy thủy sản tương đối giống nhau với công nghệ cao. Bên cạnh
thủy hải sản đông lạnh, các doanh nghiệp cũng chú ý phát triển sản phẩm hải sản
sấy khô. Tuy còn chế biến bằng phương pháp thủ công và bán cơ khí song sản
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 6
phẩm cũng đạt yêu cầu xuất khẩu. Năm 2000 đã sản xuất hơn 1.500 tấn và xuất
khẩu hơn 80 % đi các nước.
Sơ đồ qui trình công nghệ:
Cùng với sự tăng nhanh về sản lượng cũng như chất lượng thì khối lượng các
chất thải rắn từ quá trình chế biến thủy sản đưa ra ngày càng nhiều. Chất thải rắn
sản xuất bao gồm: các phụ tạng, đầu, vỏ, xương, vảy của cá, mực, tôm loại ra trong
quá trình chế biến.
Số lượng phế thải thủy hải sản thường biến động theo nguồn nguyên liệu,
chủng loại sản phẩm và công nghệ chế biến. Theo số liệu của WHO, đònh mức
phát thải trung bình như sau:
Nước thải, CTR
Nước thải, CTR
Nguyên liệu
Sơ chế, rửa
Chế biến
Rửa sạch
Phân cỡ
Cấp đông
Đóng thùng
Bảo quản
Nước
Nước
Nước thải
Nước thải
Nước
Nhiệt
Bao bì hỏng Bao bì
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 7
- 280 Kg/tấn sản phẩm cá, mực.
- 570 Kg/tấn sản phẩm cua, tôm.
- Như vậy với tổng công suất của Khu Công Nghiệp là 47 tấn/ ngày thì tổng lượng
chất thải ra dao động khoảng 13,16
÷
26,8 tấn/ ngày.
Chất thải rắn sản xuất và sinh hoạt tại các cơ sở chế biến thủy sản chủ yếu là
các hợp chất hữu cơ dễ bò phân hủy bởi các vi sinh vật, các chất khoáng vô cơ. Các
tác động môi trường gây ra do chất thải rắn chế biến thủy sản:
- Làm mất mỹ quan.
- Chất thải rắn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các sinh vật truyền
bệnh nguy hiểm như ruồi, muỗi
- Các chất thải rắn này dễ dàng bò phân hủy bởi các vi sinh vật, gây ô nhiễm không
khí, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm.
Trong quá trình làm đề tài chúng tôi có quan sát và tìm hiểu thì từ năm 2006
đến nay hầu hết các nhà máy thủy sản không còn hợp đồng với Công ty Đô thò môi
trường thu gom và xử lý chất thải và bùn thải tại nhà máy. Đa số các doanh nghiệp
trong khu công nghiệp đều chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng hoặc có
thì cũng chỉ mang tính đối phó nên nước thải được chảy chung vào cống thoát nước
mưa và thải trực tiếp vào Âu Thuyền. Toàn bộ các phế thải thuỷ hải sản sau quá
trình chế biến, sản xuất được đựng trong các thùng nhựa, xô có nắp hay không
có nắp, cuối mỗi ngày thì được đổ thẳng ra Âu Thuyền Thọ Quang, ra sông Hàn.
Hình 2: Phế thải sau chế biến
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 8
Chính vì điều đó, mà mặc dù các doanh nghiệp chế biến hải sản xuất khẩu
chỉ mới được tập trung về Khu Công Nghiệp dòch vụ thủy sản Thọ Quang, Đà Nẵng
vài năm trở lại đây nhưng hầu hết người dân khu vực phường Nại Hiên Đông
(quận Sơn Trà) đã bắt đầu phản ánh vì mùi hôi rất khó chòu có xuất xứ từ phía Âu
Thuyền Thọ Quang, nhất là khi có gió Nồm thì mùi hôi lại hành hạ người dân dữ
dội hơn. Mặt nước của Âu Thuyền Thọ Quang như đặc sánh lại, rác rưởi nổi lềnh
bềnh, mùi hôi bốc lên nồng nặc không ai còn dám đặt chân xuống nước vì có thể
gây ngứa toàn thân, nổi ghẻ Môi trường ô nhiễm nặng, ruồi muỗi nhiều, dòch
bệnh phát triển nhanh, ngư dân trên tàu thường bò các loại bệnh như: sốt cao, viêm
phổi, viêm phế quản và dò ứng khắp cơ thể. Người dân ở ngay cạnh sông, cạnh
biển nhưng không bao giờ được hưởng không khí trong lành.
Theo kết quả quan trắc của Sở Tài nguyên - Môi trường Thành Phố Đà
Nẵng thực hiện cho thấy, nước thải tại khu vực Thủy sản Thọ Quang bò ô nhiễm
hữu cơ nghiêm trọng, nồng độ BOD
5
vượt 12,6 lần, COD vượt 10,48 lần, tổng Nitơ
vượt 2,17 lần, tổng Photpho vượt 2,76 lần, lượng coliform vượt 1,5 lần
TT Chỉ tiêu Đơn vò NT1 NT2 NT3 NT4 NT5
1 PH 7,6 7,2 5,2 7,31 6,58
2 SS Mg/l 121 71 85 142,2 50,8
3 COD Mg/l 312 88 179 420 95
4 BOD
5
Mg/l 198 49 142 265 55
5 Nitơ tổng Mg/l 25,6 5,5
6 Photpho tổng Mg/l 63,4 14,0
7 Coliform MNP/100ml 1000
Nguồn: Báo cáo ĐTM - Dự án ĐTXD hệ thống HTKT KCN dòch vụ thuỷ sản
Đà Nẵng.
NT1: Nước thải công ty Danifood trước xử lí.
NT2: Nước thải công ty Danifood sau xử lí.
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 9
NT3: Nước thải công ty chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Thọ Quang sau xử lí.
NT4: Nước thải công ty TNHH Phước Tiến chưa xử lí.
NT5: Nước thải công ty TNHH Đại Thuận chưa xử lí.
Từ thực tế đó, để bảo vệ sức khoẻ của người dân đòa phương, đảm bảo mỹ
quan khu vực nói riêng và thành phố nói chung, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp thì một yêu cầu cấp thiết được đặt ra là bằng cách
nào đó phải giải quyết được lượng chất thải phát sinh này.
Cùng với tình trạng gia tăng dân số nước ta hiện nay làm cho diện tích đất
canh tác bình quân đầu người trong vòng 65 năm qua đã giảm từ 2548 m
2
xuống
còn 732 m
2
, tương ứng với mức độ giảm 1,1%/năm. Vì vậy, sử dụng đất nông
nghiệp sao cho hiệu quả là thật sự cần thiết. Ông cha ta có câu ”Nhất nước, nhì
phân, tam cần, tứ giống” cho thấy được tầm quan trọng của phân bón đối với việc
làm tăng năng suất cây trồng.
Phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh dưỡng
cần thiết mà đất không đủ khả năng cung cấp, duy trì độ phì nhiêu trong quá trình
canh tác.
1.3. Đònh hướng xử lý
Đặc trưng của ngành chế biến thủy sản là lượng chất thải phụ thuộc vào mùa
vụ khai thác, chất lượng và số lượng nguyên liệu sử dụng dẫn đến có lúc quá nhiều
chất thải, lúc lại rất ít, là khó khăn cho các nhà quản lý xí nghiệp muốn xây dựng
cho riêng mình một hệ thống xử lý chất thải có công suất phù hợp. Nhưng nếu thải
bỏ ra bên ngoài thì vừa gây ô nhiễm môi trường lại vừa lãng phí vì thành phần chủ
yếu của phế thải thủy sản là các chất hữu cơ giàu đạm, canxi, photpho…là những
chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự sống. Bằng nhận đònh chủ quan, nhóm chúng
tôi hình thành và thực hiện ý tưởng sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải này. Biện
pháp này vừa giúp giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường vừa làm tăng giá trò phế liệu
thu hồi.
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 10
CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
2.1. Mục tiêu đề tài
- Giải quyết tình trạng ô nhiễm tại khu công nghiệp dòch vụ Thủy sản Thọ Quang -
Đà Nẵng và các vùng phụ cận.
- Tận dụng các phế phẩm gây ô nhiễm để sản xuất phân bón hữu cơ phục vụ cho
nông nghiệp và trồng cây cảnh.
2.2. Các phương pháp tiếp cận
1. Phương pháp khảo sát thực đòa
- Tiếp cận, khảo sát, tìm hiểu đối tượng.
- Lấy mẫu chất thải.
2. Phương pháp mô hình
- Xây dựng mô hình ủ phân.
- Xây dựng mô hình trồng rau.
3. Phương pháp phân tích
- Phân tích các thành phần dinh dưỡng và các chỉ tiêu vi sinh trong sản phẩm.
4. Phương pháp đánh giá kết quả
- Kết quả phân tích ở phòng thí nghiệm.
- Kết quả phân tích của Trung Tâm Kỹ Thuật Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng 2
- Tổng Cục Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng.
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 11
CHƯƠNG 3
NGHIÊN CỨU, LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN
3.1. Phân hữu cơ và các phương pháp ủ
3.1.1. Khái niệm
Phân bón hữu cơ là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu
cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, góp phần
nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân bón hữu cơ không gây ảnh hưởng
xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản.
3.1.2. Lựa chọn phương pháp ủ phân
Quá trình ủ phân hữu cơ là một phương pháp truyền thống được áp dụng phổ
biến ở các quốc gia đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Phương
pháp này được áp dụng rất có hiệu quả. Quá trình ủ thực chất là một quá trình phân
giải phức tạp các hợp chất gluxit, lipit và protein với sự tham gia của các vi sinh vật
hiếu khí hay kỵ khí. Quá trình ủ có thể là ủ hiếu khí hay kỵ khí.
Ở đây chúng tôi chọn phương pháp ủ kỵ khí không hoàn toàn có đảo trộn
đònh kỳ vì:
- Đặc điểm của phế thải thủy sản là có mùi hôi thối đặc biệt trong quá trình phân
hủy.
- Quy trình ủ đơn giản hơn so với phương pháp ủ hiếu khí.
- Chi phí đầu tư và vận hành thấp.
- Dễ áp dụng trong thực tế.
3.2. Quy trình ủ phân
Phế thải thủy sản có đặc điểm là độ ẩm cao nên cần thiết phải bổ sung cơ
chất để đạt được độ ẩm thích hợp.
Quy trình sản xuất phân bón hữu cơ được tiến hành theo các bước:
- Thu gom nguyên liệu (phế thải thủy sản) và cơ chất.
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 12
- Cắt, xé nhỏ đến kích thước thích hợp.
- Phối trộn phế thải thủy sản và cơ chất, đồng thời phun chế phẩm sinh học với liều
lượng trung bình 1 lít/m
3
.
- Tiến hành ủ, che đậy bằêng lá cây, túi nilong để giữ nhiệt, đồng thời giữ độ ẩm
vào khoảng 45 – 70 % trong suốt quá trình ủ.
- Đảo đònh kỳ, kiểm tra và theo dõi nhiệt độ ủ. Bổ sung chế phẩm sinh học.
Quá trình ủ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, kích thước vật liệu
ủ…
Sơ đồ quy trình ủ:
3.3. Thực hiện quá trình ủ thử nghiệm
3.3.1. Nguyên liệu
- Nguyên liệu chính là phế thải thủy sản: gồm nội tang mực, da cá, ruột cá.
- Cơ chất bổ sung: thử nghiệm với rơm rạ, bã mía, mùn cưa từ quá trình sản xuất
nấm Linh Chi.
* Cơ sở lựa chọn cơ chất:
Cơ chất
Phế thải thủy sản
Phối trộn
Ủ
Chế phẩm
sinh học
Theo dõi
nhiệt độ
Bổ sung
chế phẩm
Phân bón hữu cơ
Cắt, xé Cắt, xé
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 13
+ Đà Nẵng là đô thò loại I, nhưng nông nghiệp vẫn là một ngành trọng yếu. Mặt
khác Đà Nẵng lại tiếp giáp với Quảng Nam là một tỉnh có thế mạnh về nông
nghiệp nên phát sinh một lượng rơm rạ, bã mía đáng kể. Việc chúng tôi lựa chọn
những cơ chất này cũng góp phần giải quyết được lượng phế thải nông nghiệp đó.
+ Theo điều tra, Đà Nẵng có khoảng 70 cơ sở sản xuất nấm và cứ 600 kg nấm cần
1 tấn mùn cưa. Như vậy lượng mùn cưa thải ra khoảng 5,5tấn/ngày. Đây là một
lượng khá lớn nếu thải bỏ thì thật lãng phí một nguồn nguyên liệu hữu ích. Mùn
cưa sử dụng trong quá trình nghiên cứu được lấy từ hợp tác xã nấm An Hải Đông
năng suất 50kg nấm/ngày. Mùn cưa được trộn với bông làm giá thể cho quá trình
sản xuất nấm.
Các nguyên liệâu này được sử dụng khá phổ biến trong các quá trình ủ phân
truyền thống của người dân Việt Nam.
3.3.2. Chuẩn bò dụng cụ, hóa chất
- Thùng xốp cách nhiệt với kích thước 53x39x30 (cm) có ngăn thu nước rỉ ở đáy
được làm bằng khung sắt với chiều cao 10 cm, phía trên đặt lưới thép mắt lưới nhỏ
sao cho phân khỏi lọt xuống đáy.
- Cân.
- Chế phẩm sinh học PMET (Plants medicine enviroment treater): được pha loãng
theo tỉ lệ 1:4, ủ trong vòng 3 ngày trước khi sử dụng
Hình 3: Mùn cưa thải ra sau quá trình làm nấm
tại Hợp tác xã An Hải Đông
Đề tài tham dự cuộc thi “Phát minh xanh Sony 2007” http://www.ebook.edu.vn
Nghiên cứu, sản xuất phân bón hữu cơ từ phế thải thủy sản Trang 14
+ Các thành phần chính của PMET:
- Độ pH: 3,0 – 3,4
- Vi sinh vật có ích: 6,9x10
6
CFU/ml.
- Lactobacillius spp: 6,8x10
6
CFU/ml.
- Saccharomyces cerevisiae: 2,4x10
4
CFU/ml.
- Hàm lượng chất khô tính theo khối lượng: ≤ 1,5%.
- Dung môi và các phụ gia: < 65%.
+ Công dụng: Xử lý mùi hôi do các chất hữu cơ phân hủy sinh ra và các hợp chất
chứa H.C, S, N, P.
- Nhiệt kế.
- Các dụng cụ cần thiết khác.
Hình 4: Chế phẩm sinh học PMET
Hình 5: Cấu tạo thùng ủ phân
3.3.3. Tiến hành ủ thử nghiệm
1) Ủ với cơ chất là rơm rạ
Phế thải thủy sản phối trộn với rơm rạ đã được cắt nhỏ, phun chế phẩm sinh
học PMET với liều lượng 1 lit/m
3
để bổ sung vi sinh vật, đồng thời để khử mùi. Cho
vào thùng ủ, đậy kín bằng lá cây, túi ni lông. Trong quá trình ủ phải thường xuyên
kiểm tra và đảo trộn đònh kỳ 3 ngày/lần kết hợp với theo dõi sự thay đổi nhiệt độ.
Bổ sung PMET trong giai đoạn đầu.
2) Ủ với cơ chất là bã mía
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét