a. Đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong quan
hệ kinh tế quốc tế.
Quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện từ khi con người biết thực hiện hành vi trao
đổi hàng hoá giữa các quốc gia. Quy mô và phạm vi trao đổi ngày càng mở rộng và
hình thành nên các mối quan hệ kinh tế quốc tế gắn bó và phụ thuộc vào nhau giữa
các nước trên thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hoạt động kinh tế đối ngoại ra đời muộn
hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, nhưng ngay khi xuất hiện, vào khoảng
cuối thế kỷ XIX, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có vị trí đáng kể trong quan hệ kinh
tế quốc tế. Đến nay đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành xu hướng của thời đại
và là nhân tố quyết định bản chất các quan hệ kinh tế quốc tế.
Cơ sở cho hoạt động FDI không chỉ là lợi nhuận cao nhất mà còn là sự đa dạng
hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro, mở rộng thị trường, kết hợp lợi thế so sánh
về công nghệ, quản lý với các yếu tố khác.
b. Những lợi thế kinh tế của FDI đối với nước nhận đầu tư:
1. Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bao gồm nguồn vốn trong nước và vốn nước
ngoài. Hầu hết các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu đều phải đương đầu với
sự khan hiếm vốn. Do vậy, để đạt được sự tăng trưởng ổn định cao nhằm đưa đất
nước thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu thì các nước này phải tìm kiếm nguồn bổ
sung từ bên ngoài mà trong đó FDI đóng vai trò quan trọng nhằm tăng cường vốn
đầu tư trong nước và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ. Ngoài ra, FDI còn bổ sung đáng
kể nguồn thu ngân sách của Chính phủ các nước nhận đầu tư thông qua thuế Đây
là nguồn vốn quan trọng để đầu tư cho các dự án phát triển của nước chủ nhà.
2. Chuyển giao công nghệ:
Khi đầu tư vào một nước nào đó chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó
vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc thiết bị và vốn vô
hình, chuyên gia kỹ thuật, bí quyết công nghệ, quản lý. Thông qua tiếp nhận FDI,
Trang 5
các nước nhận đầu tư có thể tiếp nhận được công nghệ hiện đại, sau đó cải tiến và
phát triển phù hợp thành công nghệ cho nước mình.
3. Học tập kinh nghiệm và tiếp cận thị trường mới.
FDI giúp các nước nhận đầu tư đào tạo kiến thức kinh doanh, quản lý, tay
nghề và tiếp cận thị trường thế giới. Thông thường ở các nước nhận đầu tư trình độ
quản lý của các cán bộ quản lý, trình độ tay nghề và nhận thức của công nhân còn
yếu kém nên khi đầu tư, để tiếp cận công nghệ mới, các chủ đầu tư nước ngoài
thường tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công nhân để thực
hiện dự án. Bằng con đường này, kiến thức của các cán bộ quản lý và tay nghề của
công nhân được nâng lên. Hơn nữa, FDI giúp các doanh nghiệp tiếp cận và xâm
nhập được vào thị trường thế giới thông qua liên doanh và mạng lưới thị trường
rộng lớn của hệ thống các công ty xuyên quốc gia.
4. FDI là công cụ để kích thích cạnh tranh:
Chính phủ các nước chủ nhà thường muốn sử dụng FDI như một công cụ để
kích thích và liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nước. Các công ty nước
ngoài như một đối tượng để cho các doanh nghiệp trong nước tăng tính cạnh tranh
của mình, thay đổi tác phong kinh doanh cũ. Mặt khác các doanh nghiệp nội địa
cũng mở rộng được quy mô sản xuất và lĩnh vực kinh doanh nhờ cung cấp các yếu
tố đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho các công ty nước ngoài.
Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một tất yếu khách quan trong
điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền sản xuất, lưu thông và ngày càng được tăng
cường mạnh mẽ. Có thể nói không một quốc gia nào dù phát triển hay đang phát
triển lại không cần đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và coi đó là nguồn
lực, phương tiện để khai thác và hoà nhập vào cộng đồng quốc tế.
5. FDI tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động nước sở tại.
FDI tạo công ăn việc làm và thu nhập đáng kể cho lực lượng lao động của
nước nhận đầu tư, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và góp phần chuyển dịch cơ
cấu lao động theo các ngành nghề, lãnh thổ theo hướng tích cực. Điều đáng kể là số
Trang 6
lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp tục đào tạo hoặc
được nâng cao nghiệp vụ và được bố trí vào các vị trí của công ty.
c. Những hạn chế của FDI đối với các nước nhận đầu tư.
1. Chi phí của việc thu hút FDI.
Để thu hút FDI, nước nhận đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho nhà đầu tư:
Giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian cho các dự án đầu tư nước ngoài hoặc
mức giá tiền thuê đất, nhà xưởng và một số dịch vụ trong nước thấp. Hay trong một
số các lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan và như vậy đôi khi lợi ích của
nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được trong một thời gian nhất
định.
2. Hiện tượng chuyển giá:
Các công ty xuyên quốc gia, các nhà đầu tư thường liên kết chặt chẽ với nhau
để nâng giá những nguyên, vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, máy móc thiết bị nhập
vào để thực hiện đầu tư đồng thời giảm giá sản phẩm bán ra, thậm chí rất thấp so
với giá thành nhằm, giấu lợi nhuận thực tế thu được để tránh thuế của nước chủ nhà
đánh vào lợi nhuận của nhà đầu tư. Từ đó, hạn chế đối thủ cạnh tranh xâm nhập thị
trường, hạn chế khả năng và dần dần đẩy đối tác Việt Nam trong liên doanh đến phá
sản do liên doanh thua lỗ kéo dài. Hoặc tạo ra chi phí sản xuất cao giả tạo ở nước
nhận đầu tư và nước chủ nhà phải mua hàng hoá do nhà đầu tư nước ngoài sản xuất
với giá cao hơn.
Tuy nhiên việc tính giá đó chỉ xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ
quản lý yếu, hoặc chính sách của nước đó còn nhiều khe hở khiến các nhà đầu tư có
thể lợi dụng được.
3. Các nhà đầu tư thường bị buộc tội là đã chuyển giao công nghệ và kỹ thuật
lạc hậu vào nước họ đầu tư.
Điều này có thể được giải thích như sau: - (1) Dưới tác động của cách mạng
khoa học kỹ thuật, cho nên máy móc, công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu, vì
vậy họ thường chuyển giao những công nghệ đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư
để đổi mới công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm ở chính quốc; (2)
Trang 7
Vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ sử
dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, sau quá trình phát triển, giá lao động tăng lên, làm
cho giá thành sản phẩm cao, vì vậy họ muốn thay thế công nghệ này bằng những
công nghệ có hàm lượng kỹ thuật cao để hạ giá thành sản phẩm.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư
như là: (1). Khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao, do vậy
nước nhận đầu tư thường bị thiệt trong việc tính giá trị tỷ lệ góp vốn trong các
doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận; (2).
Gây tổn hại đến môi trường; (3). Chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và
do đó sản phẩm của nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệ,
pháp Luậtvề đầu tư, bảo vệ môi trường và khả năng tiếp nhận công nghệ của nước
nhận đầu tư.
4. Những mặt trái khác:
Mục đích của nhà đầu tư là kiếm lợi nhuận tối đa nên họ chỉ đầu tư vào những
địa bàn, có cơ sở hạ tầng tương đối tốt, và những lĩnh vực nhanh chóng thu hồi vốn
và có lợi. Vì vậy đôi khi vốn đầu tư nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối
giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. FDI cũng có thể có ảnh hưởng xấu về xã
hội: Gây phân hoá giàu nghèo, thay đổi lối sống tiêu cực, xâm hại đến các giá trị
văn hoá - xã hội truyền thống cùng với sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như nghiện
hút, mại dâm
Từ sự phân tích trên ta thấy đối với mỗi nước nhận đầu tư, FDI không chỉ đem
lại những lợi ích mà nó có thể gây ra những tác động xấu, do đó cần có sự quản lý
của Nhà nước trong lĩnh vực này.
II. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Khái niệm quản lý:
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối
tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
Trang 8
Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng vào
quá trình đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ
chức - kỹ thuật cùng các biện pháp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao
trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy
Luậtkinh tế khách quan nói chung và quy Luậtvận động đặc thù của đầu tư nói
riêng.
2. Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành kinh tế:
kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư bản
Nhà nước. Mỗi chủ thể kinh tế trong nền kinh tế có những dự kiến, phán đoán và
quyết định khác nhau phù hợp với những lợi ích của mình. Để các quyết định tập
trung, hướng vào mục tiêu chung, vừa có lợi cho mỗi bản thân chủ thể, vừa có lợi
cho quốc kế dân sinh cần có sự điều hoà theo một định hướng chung, có hiệu quả
cao nhất. Trong một nền kinh tế thị trường thuần tuý, cơ chế điều hoà phối hợp, đó
là cơ chế thị trường mà bản chất là cơ chế giá cả. Tuy nhiên, trong một nền kinh tế
hỗn hợp, đặc biệt là một nền kinh tế như nước ta, thị trường chưa phát triển, giá cả
chưa đủ mạnh để động viên các nguồn lực thì vai trò của Nhà nước là đặc biệt quan
trọng. Vai trò đó được nâng lên trong điều kiện chúng ta phải tập trung mọi sức lực
để tăng trưởng và phát triển nhanh đảm bảo các mục tiêu công bằng xã hội.
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vừa với tư cách là cơ quan quyền lực
đại diện cho nhân dân, vừa với chức năng là người chủ tài sản thuộc sở hữu toàn
dân. Tuy vậy, chức năng, phương thức quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường đã có nhiều thay đổi so với trước đây. Có nhiều quan điểm sung quanh vai
trò và chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, nhưng trong giai đoạn
hiện nay, có thể nói, Nhà nước chủ yếu tập trung vào những chức năng chủ yếu sau:
Một là, thể chế hoá một cách đồng bộ, nhất quán các chính sách kinh tế và cơ
chế kinh tế, tạo điều kiện môi trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh
lành mạnh, chống độc quyền.
Trang 9
Hai là, cải cách bộ máy Nhà nước sao cho bộ máy này có đủ khả năng và tư
cách là một người trọng tài nghiêm minh, giải quyết và điều hoà các mối quan hệ lợi
ích trong nền kinh tế thị trường.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư có trọng điểm khu vực kinh tế quốc
doanh, xây dựng một số ngành mũi nhọn, cung cấp các dịch vụ công cộng cho toàn
xã hội.
Với các chức năng như vậy, phương thức quản lý của Nhà nước cũng chuyển
dần quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng công cụ Luậtpháp, kế hoạch và các
chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng.
Trong giai đoạn đầu có thể vẫn phải sử dụng phương pháp quản lý trực tiếp là
chủ yếu, dần dần chuyển sang kết hợp giữa quản lý trực tiếp và quản lý gián tiếp.
Cuối cùng, khi Luậtpháp và các công cụ đã hoàn chỉnh, Nhà nước sử dụng nhiều
đến biện pháp điều tiết gián tiếp thông qua thị trường.
Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước sử dụng các
công cụ quản lý của mình với tư cách là môi trường, là vật truyền dẫn và khách thể
quản lý tới các đối tượng quản lý. Môi trường tốt bao gồm không chỉ môi trường
pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, môi trường kinh tế nhiều tiềm năng phát triển, môi
trường các nguồn lực dồi dào, phong phú như nguồn nhân lực với giá rẻ. Môi
trường hành chính thuận tiện, nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế,
của quản lý kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm cả khả năng giải
quyết đúng đắn quan hệ lợi ích kinh tế thời kỳ các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế
thị trường. Nói cách khác, với hệ thống công cụ quản lý vĩ mô, quản lý Nhà nước về
kinh tế có cơ hội tạo dựng, xác lập môi trường tốt cho các hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài hoạt động một cách có hiệu quả nhất, bao gồm các loại hình doanh
nghiệp khác nhau. Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội chính là phương tiện mà Nhà
nước dùng để tác động, điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội nhằm đạt
được các ý đồ, mục tiêu mong muốn của mình. Chính nhờ các công cụ quản lý với
tư cách là vật truyền dẫn tác động mà Nhà nước chuyển tải được các ý định và ý chí
tác động của mình lên mỗi con người trên toàn bộ các vùng của đất nước và các khu
vực bên ngoài.
Trang 10
Các công cụ quản lý vĩ mô bao gồm: Chính sách kinh tế - xã hội; Bộ máy Nhà
nước và công chức Nhà nước; Pháp luật; Kế hoạch - chiến lược; Các quyết định
hành chính v.v…
Chính sách kinh tế - xã hội: Là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các
biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý (trong phạm vi quốc gia đó là Nhà
nước) sử dụng, nhằm tác động lên đối tượng và khách thể quản lý để đạt được các
mục tiêu trong số các mục tiêu chiến lược chung của đất nước một cách tốt nhất sau
một thời gian xác định.
Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, chính sách kinh tế của Nhà nước một
mặt tạo ra sự thông thoáng cho các doanh nghiệp FDI phát triển, mặt khác phải bảo
vệ các doanh nghiệp trong nước phát triển, hướng các hoạt động đầu tư trực tiếp vào
các ngành, các vùng, các lĩnh vực bức thiết của nền kinh tế quốc dân.
Bộ máy Nhà nước và công chức Nhà nước: Theo hiến pháp năm 1992, Bộ máy
Nhà nước bao gồm các loại cơ quan chủ thể là các cơ quan quyền lực Nhà nước
(gồm Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp), các cơ quan quản lý Nhà nước
(gồm Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác thuộc Chính phủ,
Uỷ ban nhân dân các cấp), các cơ quan kiểm sát, các cơ quan xét xử. Bộ máy Nhà
nước ta là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan để thực thi các chức năng lập
pháp, hành pháp, tư pháp đã được xác định trong hiến pháp và tại các Luậtvề tổ
chức các cơ quan trong bộ máy Nhà nước.
Các công chức là những người làm nhiệm vụ tại các công sở của Nhà nước,
được hưởng lương và phụ cấp theo công việc được giao lấy từ ngân sách Nhà nước.
Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước ta và đội ngũ cán bộ
công chức Nhà nước phải tạo môi trường thông thoáng, đặc biệt là khâu thủ tục
hành chính và các quy định về các loại, mức thuế, lệ phí phải nộp để tạo hành lang
cho các doanh nghiệp phát triển và thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước
ngoài vào làm ăn ở Việt Nam.
Công sản: Là các nguồn vốn và phương tiện vật chất mà Nhà nước có thể sử
dụng để điều hành xã hội như: Ngân sách, đất đai, kho bạc, kết cấu hạ tầng, các
Trang 11
doanh nghiệp Nhà nước và các tài sản tự nhiên khác mà Nhà nước nắm giữ, đưa
vào khai thác, sử dụng. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nhà
nước, phải tạo điều kiện về quỹ đất đai cho các doanh nghiệp theo những quy hoạch
đã định và phải luôn quan tâm bảo vệ nguồn tài sản này, tránh để các doanh nghiệp
vốn đầu tư nước ngoài vì lợi ích riêng làm tổn hại đến tài nguyên đất đai của đất
nước. Mặt khác, kết cấu hạ tầng đang là một vật cản đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, do sự lạc hậu và thiếu đồng bộ gây ra, vì vậy Nhà nước cần
đặc biệt quan tâm để từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ và các nguồn lực phải có để
thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ đặt ra.
Công tác kế hoạch của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài phải tuân thủ các đòi hỏi của các quy Luậtkinh tế, thị trường do đó nó chỉ
mang tính định hướng, gián tiếp dựa trên một quy hoạch tổng thể chung thông qua
các đòn bẩy kinh tế và lợi ích kinh tế để cho các doanh nghiệp doanh nghiệp FDI tự
do phát triển trong một hành lang quy định chuẩn xác của Nhà nước.
Các quyết định hành chính Nhà nước: Là sản phẩm trí tuệ của các nhà lãnh
đạo và các công chức Nhà nước để điều hành, quản lý xã hội; là sự thể hiện ý chí
của Nhà nước bằng các mệnh lệnh mang tính đơn phương của quyền hành pháp Nhà
nước, nhờ đó việc điều hành xã hội được thuận lợi. Đây là trách nhiệm tối thượng
của Nhà nước đối với xã hội.
Các quyết định quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài phải hợp lý dựa trên việc xử lý kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà đầu tư với Nhà
nước và tập thể người lao động trong doanh nghiệp. Các quyết định phải đảm bảo
sự ổn định lâu dài cho các hoạt động FDI phát triển thuận lợi. Các công cụ quản lý
vĩ mô của Nhà nước có thể được mô hình hoá theo sơ đồ dưới đây
Trang 12
Sơ đồ các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
3. Quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
FDI là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Việt Nam và là mối
quan hệ của kinh tế nước ta với các nước trên thế giới. Quản lý FDI cũng tuân thủ
những nguyên lý chung về quản lý Nhà nước về kinh tế nhưng cũng có nét đặc thù
riêng. Nét đặc thù này xuất phát từ đặc điểm nội tại của hoạt động FDI đồng thời
cũng xuất phát từ điều kiện và yêu cầu riêng về quản lý FDI của Nhà nước.
Những đặc điểm cơ bản của FDI.
Thứ nhất, FDI là hoạt động thị trường hơn thế nữa là thị trường mang tính chất
và quy Luậtcủa thị trường quốc tế. Do điều kiện cạnh tranh quốc tế các nhà đầu tư
phải tính toán kỹ khả năng, điều kiện thị trường để thu lợi nhuận. Họ sẽ không hoặc
sẽ đầu tư hạn chế vào những dự án mà hiệu quả kinh tế không rõ ràng và kém hấp
dẫn. Do vậy, một trong những yêu cầu quản lý Nhà nước là phải tạo điều kiện để
các nhà đầu tư nước ngoài hiểu đầy đủ và rõ ràng các thông tin về đường lối, chính
sách của Nhà nước về pháp luật, thị trường, đối tác và những quy định cụ thể khác
đối với FDI.
Thứ hai, FDI là hoạt động của khu vực tư nhân và hơn thế nữa là hoạt động
của tư nhân nước ngoài có quyền sở hữu và quyền quản lý. Động cơ của nhà đầu tư
nước ngoài khác với mục tiêu của nước chủ nhà. Các nhà đầu tư nước ngoài quan
tâm đến những vấn đề thiết thực như thuế, giá thuê các loại, chi phí sản xuất và cuối
Trang 13
Các công cụ quản lý vĩ mô
của Nhà nước đối với hoạt
động FDI
Các chính
sách kinh tế -
xã hội
Bộ máy
Nhà nước
Pháp luật Kế hoạch
chiến
lược
Quyết
định hành
chính
cùng là lợi nhuận thực tế. Trong khi đó nước chủ nhà lại quan tâm đến hiệu quả kinh
tế - xã hội, đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Do vậy quản lý Nhà nước về
FDI phải tạo điều kiện cho cả 2 lợi ích này dung hoà được với nhau, bằng các chính
sách hướng dẫn cụ thể và hấp dẫn đồng thời không áp đặt, ép buộc một cách chủ
quan, duy ý chí.
Thứ ba, FDI phần lớn do các công ty xuyên quốc gia tiến hành. Lý thuyết và
kinh nghiệm cho thấy các công ty này có lợi thế về uy tín, nhãn hiệu, thị trường
nhưng có xu hướng "bảo hộ" mạnh, vì vậy việc thu hút các công ty này là một việc
làm tốt, cần thiết. Đồng thời cần có biện pháp thu hút tối đa lợi thế của họ như công
nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh.
Thứ tư, FDI được thực hiện thông qua các dự án đầu tư. Quy trình hoạt động
dự án FDI có nhiều đặc điểm khác với quy trình của các loại dự án khác. Quy trình
này bắt đầu từ việc chuẩn bị dự án, lựa chọn đối tác, đàm phán, lập hồ sơ, ký kết,
xin giấy phép cho việc triển khai và đưa dự án vào hoạt động. Sự phức tạp này đòi
hỏi cần có một cơ quan quản lý Nhà nước đủ mạnh để theo dõi, hỗ trợ cho dự án
hoạt động thành công.
FDI là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp của hoạt động kinh tế đối ngoại ở
Việt Nam, nên ngay từ đầu, Nhà nước đã đứng ra chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ
quá trình hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Mục tiêu chung của công tác quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu
chung của Nhà nước trong quan hệ hợp tác với nước ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực
có thể có của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường và sự
phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài nguyên
của đất nước để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích luỹ, cải thiện đời
sống nhân dân, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp các nhà đầu tư thực hiện một
cách tốt nhất, hiệu quả nhất Luậtđầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tạo môi trường hoạt
động thông thoáng, giải quyết, xử lý và điều chỉnh những phát sinh trong quá trình
đầu tư, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét