Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu và nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa tại công ty Thanh Bình HTC


5
kiến thức, các nhà quẩn lý có điều kiện trao dồi những kiến thức về trình độ và
cơng tác quản lý.
- Nhập khẩu hàng hố sẽ làm đa dạng các mặt hàng và chủng loại hàng
hố, người tiêu dùng sẽ lựa chọn được những hàng hố phù hợp với thu nhập
của mình. Qua đó sẽ góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Thơng
qua hoạt động nhập khẩu sẽ bổ xung kịp thời những hàng hố thiếu hụt trong
nước do sản xuất trong nước khơng đáp ứng đủ hoặc chưa sản xuất được.
- Nhờ nhập khẩu mà ngành sản xuất trong nước sẽ đào thải được các đơn
vị có năng lực sản xuất yếu kém khơng có sức cạnh tranh. Thơng qua hoạt động
nhập khẩu sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới cả cơng nghệ
và cách quản lý để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hố sản xuất ra. Tạo điều
kiện cho việc chiếm lĩnh thị trường trong nước và dần dần tiến tới xuất khẩu.
- Nhập khẩu sẽ tao cơ hội cho nước ta mở rộng được quan hệ ngoại giao
với các nước khác. từ đó tranh thủ sự ủng hộ của họ để phát triển kinh tế của
mình.
+ Đối với các doanh nghiệp:
- Thơng qua hoạt động nhập khẩu các doanh nghiệp phải đổi mới cải tiến
cơng nghệ chất lượng, dịch vụ sản phẩm để tăng sức canh tranh của sản phẩm
nội địa. Qua đó hiệu quả sản xuất được nâng cao, người lao động tìm đước việc
làm, đời sơng cán bộ cơng nhân được nâng cao.
- Hoạt động nhập khẩu là hoạt động trên phạm vi qc tế rất phức tạp vì
có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau về văn hố, chính trị, tập qn,
ngơn ngữ… Vì vậy, buộc các doanh nghiệp nhập khẩu phải ln hồn thiện và
đổi mới cơng tác quản trị kinh doanh, các cán bộ, các cá nhân ln phải học hỏi
kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ… Điều đó lam,f nâng cao năng lực chun
mơn của các thành viên trong doanh nghiệp.
- Hoạt động nhập khẩu hàng hố có vai trò làm tăng thế lực và uy tín của
cơng ty cả ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Lợi nhuận do kinh
doanh đem lại cho phép cơng ty xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các
lĩnh vực kinh doanh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, góp phần giải quyết cơng ăn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
việc làm cho người lao động, nâng cao đòi sống cán bộ cơng nhân viên, góp
phần giải quyết vấn đề bức xúc của xã hội, cải thiện và phát triển mối quan hệ
trong kinh doanh.
- Hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết giữa
các chủ thể trong và ngồi nước một cách tự giác, xuaqát phát từ lợi ích cuảe cả
hai bên, tạo ra sức mạnh chủ thể trong doanh nghiệp một cách thiết thực.
Như vậy nhập khẩu có ý nghiã quan trọng đối với sự phát triển của một
quốc gia, nó tồn tại như là một nhu cầu cần thiết
II. CÁC HÌNH THỨC CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
1. Nhập khẩu thơng thường (nhập khẩu trực tiếp)
Khái niệm: Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc lập
của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp các hàng hố dịch vụ mà
khơng qua tổ chức trung giam nào.
Đặc điểm
Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí và rủi ro, trách nhiệm pháp lý về hoạt
động nhập khẩu hàng hố đó doanh nghiệp phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế liên
quan đến hàng hố nhập khẩu về.
Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu dược cao hơn nhiều so với các
hình thức nhập khẩu khác. doanh nghiệp nhập khẩu là người bán hàng trực tiếp
cho khách hàng trong nước, vì vậy hàng hố nhập khẩu về phải có chất lượng
tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phù hợp thì doanh nghiệp mới có thu được lãi cao.
2. Nhập khẩu uỷ thác
Khái niệm: nhập khẩu uỷ thác là hạot động hình thành giữa một doanh
nghiệp có vốn và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hố nhưng lại khơng
có quyền tham gia nhập khẩu trực tiếp, nên phải uỷ thác cho một doanh nghiệp
có chức năng trực tiếp giao dịch tiến hành nhập khẩu theo u cậu của mình.
Bên uỷ thác sẽ tiến hành đàm phán với đối tác nước ngồi để nhập khẩu hàng
hố theo u cầu của bên đi uỷ thác và nhận được nhận một khoản thu lao gọi là
phí uỷ thác.( Nói cách khác nhập khẩu uỷ thác là doanh nghiệp nhập khẩu đóng
vai trò trung gian nhập khẩu ).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác:
- Trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhận uỷ thác khơng phải
bỏ vốn, nghiên cứu thị trường…của hàng hố nhập khẩu mà chỉ đóng vai trò làm
đại diện bên uỷ thác giao dịch với nước ngồi, ký kết hợp đồng và làm thủ tục
nhập khẩu hàng. Và phải thay mặt bên uỷ thác khiếu nại( nếu có), đòi bồi
thường nếu bị tổn thất.
Bên uỷ thác phải tự nghiên cứu thị trường, lựa chon mặt hàng, đối tượng
giao dịch và chịu mọi chi phí liên quan.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì doanh nghiệp chỉ được tính phí uỷ
thác chứ khơng được tính doanh thu và khơng phải chịu thuế doanh thu.
Khi nhập khẩu uỷ tác thị doanh nghiệp nhận uỷ thác phải lập hai hợp
đồng là hợp đồng ngoại thương giữa doanh nghiệp với đối nước ngồi và một
hợp đồng giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp uỷ thác.
Hình thức nhập khẩu uỷ thác có ưu điểm là mức độ rủi ro thấ, trách nhiệm
ít, người đứng ra nhập khẩu phải chịu tránh nhiệm cuối cùng, khơng cần bỏ vốn,
nhận tiền phí uỷ thác nhanh và ít thủ tục. Nhưng phí uỷ thác khơng cao.
Quy định của chính phủ Việt Nam về nhập khẩu uỷ thác:
Doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc mã số doanh
nghiệp nhập khẩu được uỷ thác nhập khẩu hàng hố phù hợp với nội dung của
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
việc uỷ thác nhập khẩu và việc nhận uỷ thác nhập khẩu các mặt hàng nhập
khẩu phải có điều kiện do bộ thương mại hướng dẫn cụ thể.
Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên uỷ thác nhập khẩu và bên nhận uỷ
thác nhập khẩu do các bên tham gia kí kết thoả thuận.
3. Nhập khẩu liên doanh
Khái niệm: nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hố trên cơ
sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp kỹ
năng để giao dịch và đề ra chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động
nhập khẩu,thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho hai bên
theo ngun tắc lãi cung chia lỗ cùng chịu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
Đặc điểm
So với nhập khẩu thơng thường thì nhập khẩu liên doanh giúp cho doanh
nghiệp chịu ít rủi ro hơn vì mỗi doanh nghiệp nhập khẩu chỉ phải góp một phần
vốn nhất định, quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên cũng tăng lên theovốn góp.
Việc phân chi chi phí các loại thuế theo tỷ lệ góp vốn, lỗ lãi tuỳ theo hai bên
phân chia.
Trong nhập khẩu liên doanh thì doanh nghiệp đứng ra nhập hàng về sẽ
được tính kim nghạch nhập khẩu nhưng hki dưa hàng về tiêu thụ thì chỉ tính
doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ góp vốn à chịu thuế doanh thu trên số hàng
đó.
Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp phải thực hiện hai hợp đồng một là hợp
đồng mua hàng với nước ngồi một là hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp
khác.
4. Nhập khẩu đổi hàng
Khái niệm: nhập khẩu đổi hàng là một phương pháp trao đổi hàng hố,
trong đó nhập khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, người bán cũng đồng thời là
người mua,lượng hàng trao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương
nhau. Mục đích của hoạt động nhập khẩu đổi hàng là khơng chỉ có lợi nhuận từ
hoạt động nhập khẩu mà còn để xuất khẩu hàng có lãi.
Đặc điểm
Hàng nhập khẩu và xuất khẩu có sự cân bằng về giá trị hàng giao dịch và
cân bằng về điều kiện giao hàng.
Doanh nghiệp nhập khẩu đổi hàng được tính cả kim ngạch nhập khẩu và
kim ngạch xuất khẩu, doanh số cả trên hàng xuất nhập khẩu.
Hình thức của hợp đồng nhập khẩu đổi hàng là có thể chỉ lập bằng một
hợp đồng với hai danh mục hàng hóa hoặc hai hợp đồng mà mỗi hợp đồng một
danh mục hàng hóa.
Trong trường hợp nhập khẩu đổihàng thường có điều kiện đảm bảo đối
lưu. Sự đảm bảo này có thể được thực hiện bởi một trong những phương pháp:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
dùng thư tín dụng, dùng một tài khoản đặc biệt tại ngân hàng, dùng người thứ
ba….
5. Nhập khẩu tái xuất
Khái niệm: nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào trong nước
nhưng khơng phả để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước khác nhằm
thu được lợi nhuận cao hơn, những hàng nhập khẩu này khơng qua chế biến ở
nước tái xuất. Nhưvậy nhập khẩu tái xuất ln thu hút ba nước tham gia đó là
nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất.
Đặc điểm:
Doanh nghiệp tái xuất phải thực hiện hai hợp đồng là mmọt hợp đồng
nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu.
Doanh nghiệp nhập khẩu tái xuất được tính kim ngạnh xuất khẩu và nhập
khẩu doanh số bán tínhtrên giá trị hàng xuất khẩu và phải chịu tuế doanh thu.
Hàng hóa nhập khẩu khơng nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có thể
chuyểnthẳng sang nước thứ ba nhưng trả tiền phải ln là nước tái xuất thu tiền
từ nước nhập khẩu và trả cho nước xuất khẩu. Nhiều khi người tái xuất còn thu
được lợi nhuận từ việc tiền hàngthu nhanh trả chậm.
6. Nhập khẩu theo đơn nhập hàng
Khái niệm: nhập khẩu theo đơn đặt hàng là hình thức đơn vị ngoại thương
chịu mọi chi phí và rủi ro để nhập khẩu hàng hóa cho đơn vị đặt hàng trên cơ sở
đơn đặt hàng của đơn vị đặt hàng có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền.
Đặc điểm:
Đơn vị ngoại thương phải kí kết hợp đồng với đối tác nước ngồi theo
đúng đơn đặt hàng về tên hàng, số lượng,quy cách, chất lượng và điều kiện, thời
gian giao hàng.
Đối với hình thức này phương thức thanh tốn thường áp dụng là: nhờ thu
có chấp nhận, có cải tiến.
Với các hình thức nhập khẩu đa dạng như trên việc pá dụn hình thức nào
cho hợp lý còn phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp nhập khẩu, nhu cầu trong
nướ và phù hợp với quy định của pháp luật.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10

III. KHÁI NIỆM, VAI TRỊ VÀ CÁC HÌNH THỨC CẠNH TRANH
1. Khái niệm
Ngày nay các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh vầ coi cạnh
tranh khơng những là mơi trường và động lực của sẹ phát triển mà cồn là một
yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, tạo động lực phát
triển. Do đó quan điểm cạnh tranh như sau: cạnh tranh là cuộc đấu gay gắt,
quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu
thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cạnh tranh diễn ra ở mọi nơi và ở mỗi nơi một hình thái cạnh tranh lại có
đặc điểm riêng và phạm vi riêng. Để hiểu được cạnh tranh chúng ta có thể tìm
hiểu về khái niệm lợi thế cạnh tranh và mơi trường cạnh tranh:
Lợi thế cạnh tranh : là một khái niệm cơ bản của quản lý chiến lược, việc
tạo ra và giữ được nó là tất cả những gì quản lý chiến lược quan tâm. Lợi thế
cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.
Các doanh nghiệp cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh như vậy để thu hút khách
hàng. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dễ bị soi mói bởi những hành động
bắt chiếc của đối thủ. Bởi vì lợi thế cạnh tranh có nghĩa tồn tại những đối thủ
cạnh tranh, do vậy chúng ta cần xem xết đến mơi trường cạnh tranh để cảm nhận
được lợi thế cạnh tranh được phát huy.
Mơi trường cạnh tranh: có rất ít ngành trên lĩnh vực hoặc doanh nghiệp
khơng phải đương đầu với một hình thức và mức độ cạnh tranh nào đó. Thực tế
theo một số nhà nghiên cứu quản lý chiến lược đã mơ tả mơi trường cạnh tranh
hiện nay là một mơi trường siêu cạnh tranh,đố là một mức độ cạnh tranh rất
khốc liệt và liên tục gia tăng.
2. Phân loại cạnh tranh
+ Căn cứ vào mức độ tính chất cạnh tranh trên thị trường
Cạnh tranh hồn hảo: là có nhiều người mua ngươì bán độc lập với nhau
sản phẩm là đồng nhất. Doanh nghiệp định giá cao hơn thì khơng bán được bất
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
cứ thứ gì vì người mua sẽ mua của người khác. Vì thế doanh nghiệp cạnh tranh
hồn hỏa khơng có sức mạnh thị trường, tức là khơng có khả năng kiểm sốt thị
trường đối với sản phẩm của mình bán ra. Sản lượng của doanh nghiệp là nhỏ so
với cung của thị trường vì thế doanh nghiệp khơng có ảnh hưởng đáng kể đến
tổng sản lượng, giá trên thị trường trong cạnhtỷanh hồn hảo khơng có cạnh
tranh giá cả.
Cạnh tranh độc quyền chỉ có một người mua và một người bán duy nhất,
sản phẩm là độc nhất, chính sách của doanh nghiệp trong cạnh tranh độc quyền
và định giá cao là sản lượng sản xuất ra ít. Tuy nhiên, khơng có nghĩa là nhà độc
quyền có thểư định giá bao nhiêu cũng được. Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm tiêu
dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý của nhà nước mà độc quyền có thể định
giá cao hay thấp để cuối cùng có thể thu được lợi nhuận tối đa. Các nhà độc
quyền cũng dùng hình thức cạnh tranh phi giá để thu hút khách hàng.
Độc quyền tập đồn: Sản phẩm có thể giống hoặc khác nhau và chỉ có
một số doanh nghiệp sản xuất tồn bộ hoặc hầu hết sản lượng. Tính phụ thuộc
giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanh nghiệp này ảnh hưởng đến
hành vi của doanh nghiệp khác. Nừu một doanh nghiệp giảm giá sẽ dẫn tới tình
trạng phá giá, do đó các doanh nghiệp dễ cấu kết với nhau. Vì cạnh tranh bằng
giá khơng có lợi nên người ta chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng sản
phẩm, đa dạng hóa sản phẩm.
+ Căn cứ vào phạm vi nền kinh tế
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa và dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh
tranh này các doanh nghiệp tìm mọi cách thơn tính lẫn nhau, dành khách hàng
về mình. Biện pháp canh tranh chủ yếu là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất
lao động. Giảm chi phí sản xuất nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa do
doanh nghiệp sản xuất thấp hơn giá trị xã hội để thu được nhiều lợi nhuận siêu
ngạch. Kết quả của cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển, điều kiện sản xuất
trong một ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hóa được xác định lại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Cạnh tranh giữa các ngành: Cạnh tranh giữa các ngành kinh tế với nhau
nhằm thu được lựo nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư nếu
bỏ vào ngành khác. Sự cạnh tranh này dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh từ
ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình qn
giữa các ngành
+ Căn cứ vào đối tượng kinh tế tham gia vào thị trường
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau là loại cạnh tránh quyết liệt
nhất trên thị trường. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thủ tiêu tranh dành
khách hàng và thị trường, khi ấy giá cả sẽ giảm xuống và người mua được lợi.
Đây là cuộc cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự sống còn của doanh
nghiệp.
Cạnh tranh giữa người bán với người mua: người bán và người mua cạnh
tranh nhau theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường. Người bán muốn bán
sản phẩm của mình vơí giá cao người mua muốn mua với giá thấp. Giá cuối
cùng chấp nhập được là giá thơng nhất giữa người bán và người mua sau q
trình mặc cả với nhau.
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Cạnh tranh xảy ra trên cơ sở tranh
mua khi cung nhỏ hơn cầu. Do hàng hóa trên thị trường khan hiếm nên người
mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ cần.
3. Vai trò của cạnh tranh
Mỗi một doanh nghiệp khơng thể lẩn tránh được cạnh tranh vì như vậy là
cầm chắc phá sản, phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng
linh hoạt sử dụng các cơng cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình. Cạnh tranh buộc
các doanh nghiệp phải:
Tối ưu hóa các yếu tố đầu vào cảu sản xuất kinh doanh.
Khơng ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.
Nhanh chóng tiếp cận với cơ hội kinh doanh mới
Khơng ngừng phục vụ tốt hơn nhu cầu của ngưiơù tiêu dùng cuối cùng.
Cạnh tranh làm cho giá cả phục vụ giảm xuống nhưng chất lượng lại được
nâng cao nên kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng trưeởng của nền kinh tế.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
Tòm lại, cạnh tranh là sự vươn lên mạnh m,ẽ của nhà sản xuất để sản xuất
một cách dễ dàng các loại sản phẩm hàng hóa, chiếm lĩnh mỏe rộng thị trường
và thu được lợi nhuận cao. Cạnh tranh làm cho nền kinh tế sản xuất phát triển, là
điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất tiến bộ khoa học kỹ tht, giáo dục
tính năng độngtháo vát cho các nhà sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh là cho các
doanh nghiệp khơng ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và ngày càng cải tiến
cách thức sản xuất để đem lại lợi nhuận tối đa nhưng bên cạnh đó vẫn còn có
những vấn đề còn tồn tại cần phải giải quyết như một số nhược điểm của cạnh
tranh độc quyền dẫn đến thiệt hại cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng,
những thủ đoạn lừa bịp, hàng giả, hàng lậu.
Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được thì bên cạnh việc tìm hiểu thực tế thị
trường và những vấn đề liên quan đên đối thủ cạnh tranh, phải có những biện
pháp thích hợp trong q trình phát triển và sản xuất kinh doanh đó là nghiên
cứu và ứng dụngcác lý luận về cạnh tranh một cách sáng tạo và phù hợp.
4. Các cơng cụ cạnh tranh
+ Giá cả: là một trong những cơng cụ cạnh tranh quan trọng nhất của bất
cứ một doanh nghiệp nào khi đã tham gia vào thị trường. Theo lý thuyết kinh tế
giá cả được xác định của sự giao nhau của cung và cầu, nhưng thực tế doanh
nghiệp hồn tồn có thể định giá cho sản phẩm của mình tùy theo mục đích kinh
doanh cụ thể, chỉ cần mức giá đó bù đắp được chi phí sản xuất và phải có lãi. Do
vậy doanh nghiệp có thể chọn giá cả làm cơng cụ cạnh tranh của mình. Trong
thương mại để dành được phần thắng trong cuộc chạy đuakinh tế thì các doanh
nghiệp thường đưa ra một mức giá thấp hơn của đối thủ cạnh tranh nhằm lơi
cuốn khách hàng, tiêu thụ nhiều hơn hàng hóa và dịch vụ của mình. Các đối thủ
có thể phản ứng lại bằng cách hạ giá thấp hơn. Cơng cụ cạnh tranh này khi đã
trở nên gay gắt thì sẽ biến thành cuộc chiến tranh về giá cả giữa các doanh
nghiệp.
Giá cả được thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thơng qua việc định
giá của sản phẩm: định giá sản phẩm thấp, định giá ngang thị trường, chính sách
định giá cao.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
Với một mức giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ được khách
hàng, nêu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm chi phí thì lợi nhuận thu
được sẽ tăng. Ngược lại với một mức giá thấp hơn thị trường sẽ thu hút được
nhiều khác hàng và tăng sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm
nhập thị trường và chiếm lĩnh thị trường mới. Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao
hơn mức giá thị trường chỉ sử dụng được khi các doanh nghiệp có tính độc
quyền, điều này sẽ giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh doanh nghiệp cần phải có sự
lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng thời kỳ trong
chu kỳ sản phẩm hay tùy thuộc đặc điểm của thị trường
+ Chất lượng sản phẩm: Khi thu nhập trong đời sống dân cư ngày càng
cao thì cạnh tranh bằng giá xem như khơng hiệu quả. Chất lượng của sản phẩm
và dịch vụ sẽ là mối quan tâm, của khách hàng nên nếu như hàng hóa có chất
lượng thấp thì dù có bán rẻ cũng khơng thể tiêu thụ được. Để nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ doanh nghiệp khơng còn cách nào khác là
phải nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Chất lượng được thể hiện qua
nhiều yếu tố, nếu doanh nghiệp khơng đủ điều kiện phát triển mọi yếu tố chất
lượng thì vẫn có thể đi sâu khai thác thế mạnh một hoặc một số yếu tố nào đó.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khách hàng và kỹ thuật cúng như
sự bành chướng của các cơng ty đa quốc gia thì vấn đề canỵh tranh bằng chất
lượng càng trở nên gay gắt, Khi các sản phẩm đưa ra thị trường đều đảm bảo
chất lượng cao. Chính vì vậy, đối với các quốc gia có trình độ sản xuất còn
nhiều hạn chế sẽ rất khó có khả năng canh tranh trên thị trường quốc tế.
+ Dịch vụ khách hàng: Ngồi cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng thì trên
thực tế doanh còn phải cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ. Đây là cơng cụ cạnh
tranh hết sức phổ biến, đó có thể là:
Dịch vụ trược khi bán hàng: bao gồm các hoạt động chào hàng, các thơng
tin về mặt hàng, trưng bày hàng…
Dịch vụ trong khi bán hàng: là những hoạt động phục vụ q trình lựa
chọn xem xét quyết định mua hàng của khách hàng. Hàng hóa phải được trưng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét