Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Mức thu nhập:sự gia tăng thu nhập trong nền kinh tế sẽ làm tăng các
khoản tiền d thừa ngoài chi tiêu dẫn đến sự tăng lêncủa cung tiền vay qua đó
kéo lãi suất hạ xuống.
+ Mức lạm phát: sự gia tăng lạm phát làm cho giá trị thực tế của các khoản
tiền giảm xuống làm cho giá trị các khoản tiền thu về khi cho vay giảm, cung
tiền giảm, đảy lãi suất tăng lên.
+ Mức rủi ro của việc cho vay: khi mức rủi ro trong cho vay tăng lên, làm
giảm bớt việc cho vay, cung về tiền vay giảm đẩy lãi suất lên cao.
- Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
+ Mức lợi tức dự tính của các cơ hội đầu t: Khi mức lợi tức này tăng làm
tăng nhu cầu về vốn đầu t, cầu tiền vay tăng đẩy lãi lên suất lên cao.
+ Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của việc sử
dụng tiền vay, cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.
+ Mức bội chi ngân sách nhà nớc: ngân sách nhà nớc bội chi làm tăng cầu
tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.
Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngợc lại. Khi
cung tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.
3.2. Căn cứ vào thời hạn cho vay:
< <
3.3. Căn cứ vào cơ chế lãi suất dơng:
< <
4. Các loại lãi suất tín dụng:
Trên thị trờng vốn ở các nớc, thông thờng có các loại lãi suất sau đây:
4.1. Lãi suất cơ bản:Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các ngân
hàng thơng mại và các tổ chức ấn định lãi suất kinh doanh.
4.2. Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một
khung lãi suất nào đó, mà NHTƯ ấn định cho các NHTM, hoặc do các NHTM
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
qui định trong hệ thống của nó, nhằm thống nhất các hoạt động trong nền kinh
tế quốc dân.
4.3. Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ dành
cho các NHTM, trong trờng hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái
chiết khấu thơng phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất của
các NHTM đẻ từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác
trong khung lãi suất đợc phép.
4. 4. Lãi suất tái cấp vốn: Là lãi suất do NHTƯ áp dụng khi tái cấp vốn.
4.5. Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất mà ngời cho vay đợc hởng, không tính
đến sự biến động của giá trị tiền tệ
4.6. Lãi suất thực: Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị
tiền tệ, nh lạm phát hoặc lên giá tiền tệ.
4.7. Lãi suất trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng: là lãi suất mua bán vốn
giữa các NHTM do NHTƯ điều hành và ấn định.
Các loại lãi suất tín dụng đợc hình thành một cách đa dạng trong nền kinh
tế thị trờng. Đại bộ phận chúng đều do NHTƯ kiểm soát và khống chế. Xu h-
ớng chung sẽ tiến tới một lãi suất phổ thông đơn giản. Hiện nay, ở các nớc
chậm phát triển lãi suất tín dụng còn cao. Còn ở các nớc có nền kinh tế phát
triển lãi suất thờng hạ. Ngày nay do sự hội nhập kinh tế giữa các quốc gia, cho
nên mặt bằng lãi suất có cơ hội đợc thiết lập giữa nhiều nớc trong khu vực và
nhiều nớc trên thế giới.
5. Các yếu tố ảnh hởng đến lãi suất tín dụng:
5.1. Cung và cầu về tiền vay
Nh phần trên đã đè cập, cung-cầu tiền vay có ảnh hởng đến sự biến động
lãi suất.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
5.2. Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:
Khi mức độ rủi ro càng cao thì ngời ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngợc lại.
do vậy, tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của các khoản
tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.
5.3. Số lợng vay và thời hạn vay:
Thông thờng số lợng lớn và thời hạn vay dài sẽ đợc tính lãi suất cao hơn số
lợng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thờng cao hơn.
5.4. Mức sinh lời của nền kinh tế:
Mức lãi suất cho vay chỉ đợc chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của nền
kinh tế đẻ đảm bảo cho ngời vay có lãi khi sử dụng vốn trong quá trình sản suất
kinh doanh. Mức sinh lời cao thì lãi suất sẽ cao và ngợc lại.
5.5. Thu - chi ngân sách:
Khi ngân sách nhà nớc bội chi, chính phủ bù đắp bội chi bằng cách phát hành và
bán tín phiếu, trái phiếu chính phủ, làm tăng nhu cầu vay tiền và tăng lãi suất.
Ngợc lại khi ngân sách bội thu sẽ tăng mức cung của quỹ cho vay làm cho
lãi suất giảm.
5.6. Chi phí hoạt động ngân hàng:
= +
Do đó chi phí hoạt động ngân hàng cao sẽ đẩy lãi suất tăng và chi phí hoạt
động giảm sẽ làm lãi suất giảm.
Nh vậy để duy trì mức lãi suất vừa phải, thúc đẩy nhu cầu vay vốn thì các
ngân hàng cần tích cực giảm chi phí hoạt động cũng nh thu hẹp các bộ phận cán
bộ d thừa hay cán bộ kém năng lực, tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay.
5.7. Lạm phát:
Khi lạm phát cao thì ngời cho vay sẽ không muốn cho vay, cung tiền vay
giảm xuống trong khi cầu tiền vay tăng lên (do chi phí cho khoản vay giảm đi)
đẩy lãi suất tăng cao.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lãi suất tín dụng chịu tác động của rất nhiều yếu tố cho nên để xây dựng
một chính sách lãi suất hợp lý, các nhà quản lý, các cơ quan chức năng có liên
quan phải có một cách nhìn nhận tổng hợp sát thực để có những quyết định
đúng đắn đem lại lợi ích cho ngời đi vay cũng nh đảm bảo quyền lợi của ngời
cho vay, bảo toàn đồng vốn và đảm bảo cho các NHTM, tổ chức tín dụng kinh
doanh có lãi và cao hơn nữa là ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trởng
kinh tế.
6. ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trờng
Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền
kinh tế thị trờng. Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín
dụng nói riêng và do đó đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói
chung. tác dụng của lãi suất đợc thể hiện ở những nội dung sau đây:
6.1. Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:
Tăng hay giảm lãi suất cho vay, sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống
hay tăng lên. Nh vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất. Tình
trạng này sẽ dẫn đến số lợng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm
xuống. Điều đó có nghĩa rằng, lãi suất tín dụng đã có ảnh hởng trực tiếp đến
việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội
Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi, đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu
sẽ có ảnh hởng trực tiếp đến số lợng ngoại tệ đi vào trong nớc. do đó sẽ ảnh h-
ởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu
trong từng thời kỳ.
Nh vậy, có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
6.2. Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.
Trong nền kinh tế, thờng xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lờng trớc đợc. khi xảy
ra những hiện tợng nh vậy chính phủ thờng sử dụng nhữnh công cụ kinh tế trong
đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho kinh tế
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khu vực, ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển. Chẳng hạn, trong điều kiện lạm
phát, chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lu thông về, hoặc
có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực, để điều hoà lu thông tạo
mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lu thông hàng hoá phát triển.
Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng phải đợc xử lý kịp
thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững thông tin
kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác trong việc thực
hiện chính sách lãi suất.
6.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các
ngân hàng thơng mại
Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lợng nguồn vốn huy động
đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng
lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay. Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa
các ngân hàng thơng mại. Thực chất của quá trình này là phân chia khối lợng
tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hởng của ngaan hàng ra thị trờng. Để đảm bảo
cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thơng mại đều có chiến lợc khách hàng của
mình. Chiến lợc này đợc thực hiện bằng lãi suất u đãi. Muốn vậy các ngân hàng
thơng mại đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản
lý. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
6.4. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu t.
Theo lý thuyết tài chính, chúng ta có thể đa ra một phơng trình đơn giản về
thu nhập.
Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm
Phơng trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia
đình, các doanh nghiệp mà cả đói với nền tài chính quốc gia. Giả sử, trong điều
kiện của mộy nền kinh tế bình thờng, tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý. Để
tăng tỷ lệ tiết kiệm, khuyến đầu t, tức là tăng khả năng tài chính cho toàn bộ nền
kinh tế quốc dân, thì biện pháp có hiệu quả nhất là tăng lãi suất huy động vốn. Khi
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lãi suất huy động vốn tăng lên, thì trớc hết các hộ gia đình phải xem xét lại các
khoản chi cho tiêu dùng thờng xuyên, có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi
này, để tăng thêm tỷ lệ tiết kiệm trong tổng thu nhạp. Sau đó từ khoản tiết kiệm
này, họ sẽ chọn hớng đầu t : Gửi vào ngân hàng, vào quĩ bảo hiểm, hay đầu t vào
thị trờng chứng khoán. . . khi thấy có lợi hơn.
Nh vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân
chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm. Nhng nâng lãi suất huy động vốn đến mức
độ nào, thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của
nền kinh tế quốc dân.
II. Thực trạng lãi suất tín dụng ở Việt Nam - u nhợc điểm &
tác dụng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội
Kể từ năm 1998 đến naylà giai đoạn chuyển biến chung của nền kinh tế từ
kế hoạch cứng nhắc sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, theo định
hớng xã hội chủ nghĩa cơ chế lãi suất đã đợc ngân hàng nghiên cứu sử dụng nh
một công cụ quan trọng nhất, dể tác động đến quá trình huy động vốn và cho
vay có hiệu quả. Chính sách lãi suất đã đợc thay đổi rất cơ bản: lãi suất tiết
kiệm cao hơn tốc độ trợt giá ; nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay của các
tổ chức kinh tế gần với lãi suất huy động tiết kiệm.
Lãi suất huy động vốn từ tháng 04/1989 - 06/1989 đối với loại tiết kiệm có
kỳ hạn là 12 % / tháng, không kỳ hạn là 9% / tháng. lãi suất huy động chứng
chỉ tiền gửi của các ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, của các tổ chức kinh tế là
13 - 14% / tháng. với sự hấp dẫn đặc biệt của mức lãi suất trên, các tổ chức kinh
tế và các tầng lớp dân c đã ồ ạt kéo đến gửi tiền vào ngân hàng. các NHTM, các
trung tâm tín dụng đã huy động đợc nguồn vốn to lớn, đẫ góp phần chặn đứng
cơn sốt lạm phát cao từ mức 14, 2% / tháng xuống còn 2, 9% / tháng năm 1989.
thậm chí chỉ số lạm phát tháng 05/1989 xuống còn - 0, 2% ; tháng 06/1989
xuống còn - 2, 9% ; tháng 07/ xuống còn - 2, 5% / tháng.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Có thể nói đây là bài học thành công về góc độ sử dụng lãi suất huy động
vốn để kiềm chế lạm phát. Song ảnht hởng của chính sách lãi suất đối với nền
kinh tế và bản thân ngân hàng nh thế nào?
* Giai đoạn từ 1981 tới 1990
Thời kỳ 1981 - 1991 nớc ta lâm vào cuộc khủng hoảng trì trệ về kinh tế
nghiêm trọng nhất có nguy cơ dẫn đến mất ổn định về chính trị xã hội. Trong
giai đoạn này cần phải mở rộng đầu t là biện pháp hữu hiệu nhất để chống đình
trệ, để phục hồi và phát triển nền kinh tế thoát ra khỏi cơn khủng hoảng. Nhng
trên thực tế, vì liều thuốc lãi suất huy động vốn quá cao để chống lạm phát
nhằm ổn dịnh tiền tệ chúng ta đã bị thất bại trong chính sách đầu t không những
tăng mà còn giảm sút nghiêm trọng do lãi suất huy động vốn quá cao và chậm
đợc điều chỉnh so với hệ số lạm phát, thực tế không có sản suất kinh doanh gì
lãi bằng gửi tiền vào ngân hàng, nên ngời ta không bỏ vốn vào sản suất kinh
doanh, thậm chí còn bán cả tài sản cố định đi để gửi vào ngân hàng. Các ngân
hàng đã huy động đợc nguồn vốn rất lớn với đầu vào rất cao ( 12 - 15% /
tháng ). Với lãi suất cho vay này, không một nhà sản suất kinh doanh chân
chính nào có thể chịu đựng nổi nên họ không dám vay ngân hàng. Để giải
phóng nguồn vốn, chống thua lỗ, ngân hàng phải cho vay bằng mọi giá. Kết quả
là những ngời buôn gian bán lận hàng ngoại, những ngời vay tiền ngân hàng để
chơi đề, chơi hụi, gửi vào các trung tâm tín dụng, gửi vào các trung tâm lừa đảo
nh nớc hoa thanh hơng, đại thành, xacogiva. . . Hậu quả là nguồn vốn ngân
hàng không đi vào sản suất - kinh doanh mà để vào các sòng bạc, khi đến hạn
phần lớn ngời vay không trả đợc nợ, hệ thống hợp tác xã tín dụng bị phá sản,
các tổ chức huy động vốn vỡ nợ ngân hàng thơng mại thực chất đã bị phá sản
nếu không đợc nhà nóc khoanh nợ hàng ngàn tỷ đồng đến nay vẫn không thu
hồi đợc. Mãi đến hiện nay cha ai tính đợc hiệu quả của chống lạm phát và mức
thiệt hại to lớn của nền kinh tế do chính sách lãi suất siêu thực tế trong giai
đoạn 1989 - 1990.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
* Giai đoạn từ 1990 tới 1993.
Từ khi có pháp lệnh ngân hàng 05/ 1990, chính sách lãi suất liên ngân
hàng dợc đổi mới thêm một bớc quan trọng. Cơ chế lãi suất tiến dần với lãi suất
bình quân dơng, bảo toàn đợc vốn cho cả ngời gửi và ngời vay. Cơ cấu lãi suất
bao gồm: Lãi suất huy động vốn gồm lãi suất cơ bản ( lãi suất thực) và chỉ số
giá cả của thị trờng xã hội, lãi suất cho vay bình quân bằng lãi suất huy động
vốn bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí và lãi hợp lý cho ngành ngân hàng. lãi
suất đợc điều chỉnh lại hàng tháng hàng quí theo sự thay đổi của chỉ số giá cả
thị trờng xã hội. Thủ tớng chính phủ quyết định khung lãi suất cơ bản và giá cả
thị trờng. Trong phạm vi khung lãi suất đó, thống đốc ngân hàng nhà nớc đợc
công bố mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suât cho vay đợc điều chỉnh dần hớng tới
áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế, giảm dàn số lợng quá nhiều
mức lãi suất cho vay nh thời kỳ trớc.
Kết quả thực tiễn cho thấy rằng : Chính sách lãi suất mới đã khuyến khích
đợc gửi tiền yên tâm hơn do không sợ giá trị đồng tiền mất đi do trợt giá, mà
còn có lãi, nhời ta thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn nhiều so với mua
vàng. chính vì vậy nguồn vốn huy động của các ngân hàng thơng mại tăng lên
coa và ổn định. Chỉ riêng lĩnh vực ngân hàng công thơng nhuồn vốn huy đọng
năm 1991 là 2. 828 tỷ tăng hơn năm 1990 là 0, 8 tỷ ; năm 1992 là 4. 126 tỷ tăng
hơn so với năm 1991 là 1. 300 tỷ ; sáu tháng đầu năm 1993 4. 341 tỷ tăng hơn
đầu năm 0, 125 tỷ.
Đứng trên tổng thể toàn nghành, lãi suất cho vay đã thoát khỏi tình trạng
lãi suất âm, tác động tích cực buộc ngời vay phải sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả kinh tế. D nợ tín dụng đợc mở rộng và tăng lên đáng kể, chất lợng tín
dụng cao hơn trớc, nợ quá hạn từ 25% giảm xuống dới 10% năm. Hệ thống
ngân hàng chuyên doanh đã trở nên năng động hơn trong kinh doanh, tình trạng
thua lỗ từng bớc đợc khắc phục, nhiều ngân hàng đã bắt đầu kinh doanh có lãi
thực.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tuy vậy, chính sách lãi suất hiện tại vẫn còn nổi lên một số vấn đề cần
phải giải quyết sau đây:
Cơ chế lãi suất cha thực sự phù hợp với bản chất của nó là căn cứ vào cung
- cầu của thị trờng vốn. Chín sách lãi suất vẫn còn bị chi phối bởi nhiệm vụ
chính trị chủ yếu là chống lạm phát và là công cụ của Nhà nớc để tài trợ cho các
nghành sản suất kinh doanh yếu kém. Do đó, lãi suất còn mang nặng chính sách
bao cấp nhằm bảo vệ lợi ích cho ngời gửi tiền tiết kiệm. Lãi suất thực của ngời
gửi tiền tiết kiệm lớn hơn lãi suất thực của ngời cho vay, lái suất cho vay quá
cao, lớn hơn mức sinh lời bình quân của nền kinh tế
So sánh lãi suất huy động vốn tiết kiệm 3 tháng, lãi suất cho vay với kinh
tế ngoài quốc doanh với chỉ số trợt giá hàng tháng thấy rằng : Năm 1990, lãi
suất huy động vốn là 53%/năm;chỉ số trợt giá bình quân 53%/năm. Nh vậy ngời
gửi tiền bảo tồn giá trị đợc gửi nhng không có lãi. Ngân hàng cho vay với lãi
suất âm -19, 07%/năm. Năm 1991, lãi suất huy động tiết kiệm 45%/năm;chỉ số
trợt giá bình quân 43, 4%/năm;lãi suất cho vay 40, 2%/năm. Ngời gửi đã bảo
tồn đợc vốn cho vay và có lãi 1, 6%/năm. Nhng nhìn chung ngân hàngvẫn bị lỗ
vốn do lạm phát-3, 2%/năm; lỗ vốn do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền
ghi-4, 8%/năm. Năm 1992, lãi suất huy động tiết kiệm 33, 6%/năm, chỉ số trợt
giá bình quân 16, 47%/năm ; tỉ suất cho vay 43, 2%/năm. Ngời gửi tiền và ngân
hàng không những bảo tồn đợc giá trị cho vay mà còn có lãi rất lớn16, 9%/năm.
Ngân hàng cho vay cũng có lãi suất tiền gửi 43, 1% -33, 6% = 9, 5%/năm. Sáu
tháng đầu năm 1993, lãi suất tiền gửi 15, 75%, tỉ lệ trợt giá 4, 12%. Ngời gửi
tiền sau khi đã trừ tỉ lệ trợt giá còn lãi :11, 1% -4. 12% =6, 98%. Vấn đề nổi
cộm lên rất rõ là từ năm 1992 đến 30/6/1993, ngời gửi tiền có lãi suất rất lớn,
ngân hàng cho vay có lãi suất không đáng kể, ngời đi vay phải chịu lãi suất quá
cao. Mâu thuẫn về lợi ích giữa ngời cho vay và ngời gửi cha đợc giải quyết. Hậu
quả là ngân hàng không mở rộng đợc đầu t, vốn bị ứ đọng, ngân hàng kinh
doanh cha có lãi, nhiều chi nhánh tỉnh, thành phố bị thua lỗ. Các thành phần
kinh tế không dám vay vốn đầu t vào sản xuất vì chu kì đầu t dài, trả lãi lớn sẽ
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thua lỗ, vốn vay chủ yếu đi vào mục đích lu thông, kinh doanh, dịch vụ vòng
quay nhanh mới đủ trả lãi ngân hàng. Với lãi suất 2, 6%/tháng nên chu kì sản
xuất 3 tháng thì giá thành phải chịu là: 2, 6. 3 = 7, 8%, lãi suất ngân hàng tính
trên giá vốn. Với lãi suất cho vay bình quân 3, 58%/tháng thì tỉ lệ lãi suất phải
trả ngân hàng với sản phẩm có chu kì 3 thánglà: 3, 59%. 3 = 10, 77%.
Lãi suất cho vay quá cao sẽ làm hạn chế đàu t gây ra trì trệ trong nền kinh
tế, tăng thất nghiệp. Vì vậy chính sách lãi suất trên chỉ kiềm chế tạm thờiđợc
cơn sốt lạm phát, nhng lại hạn chế sự tăng trởng của nền kinh tế. Chắc chắn sẽ
làm cho lạm phát bùng nổ với tốc độ lớn hơn.
Mặt tồn tại cơ bản của chính sách lãi suất trên mới là việc chỉ tạo khung lãi
suất của chính phủ và điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN vẫn cha linh
hoạt và phù hợp với cơ chế thị trờng.
Mặt khác cơ sở để Chính phủ và Thống đốc NHNN điề chỉnh lãi suất chỉ căn
cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trờng mà cha căn cứ vào giá cả của hàng
hoá tiền tệ trên thị trờng vốn vì vốn ở nớc ta còn sơ khai và thực chất là cha có. do
vậy không thể xác định một tỉ lệ lãi suất phù hợp với cơ chế thị trờng đợc. Một thị
trờng vốn hoàn hảo là căn cứ để xác định lãi suất hợp lý.
Chính sách lãi suất hiện hành nổi lên mâu thuẫn giữa nhiện vụ chính trị
đối với nền kinh tế và nhiệm vụ hạch toán kinh doanh tiền tệ tín dụng của ngân
hàng. Xét về góc độ hạch toán kinh doanh các khoản cho vay món nhỏ thì chi
phí đầu vào của ngân hàng lón, hệ số rủi ro cao, do đó lãi suất cho vay phải cao
hơn các khoản tín dụng thời gian ngắn. Nhng thực tế lãi suất cho vay dài và
trung hạn thấphơn lãi suất cho vay ngắn hạn, lãi suất cho vay ngành sản xuất có
chu kì sản xuất dài từ 3 đến 9 tháng thấp hơn các ngành thơng nghiệp dịch vụ
có thời hạn ngắn dới 3 tháng. Vấn đề là điều kiện kinh tế của từng ngành, từng
địa phơng mà ngân hàng thơng mại đóng trên địa bàn chịu ảnh hởnh trực tiếp
của chính sách lãi suất nói trên, phải hạch toán nh thế nào để phục vụ đợc
nhiệm vụ chính trị và kinh doanh.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét