- Nhập khẩu hàng hóa tạo ra nguồn hàng liên quan đến đầu vào, tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động của công ty thương mại. Nhập khẩu để cung cấp
những mặt hàng mà trong nước còn thiếu hoặc chưa thể sản xuất được, đáp ứng
nhu cầu sản xuất, tiêu dùng. Nhập khẩu các nguyên vật liệu làm đầu vào cho
hoạt động sản xuất chế biến của các công ty trong nước. Hoạt động kinh doanh
nhập khẩu có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của
chính công ty thương mại.
- Khi tham gia vào thị trường thế giới các công ty sẽ có điều kiện cọ sát,
cạnh tranh với các đơn vị trên thế ghới, tạo điều kiện cho các công ty nâng cao
sức cạnh tranh của mình. Khi xuất hiện sự có mặt của hàng nhập khẩu trên thị
trường trong nước sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại. Để tồn
tại và phát triển trong cuộc đọ sức đó, các công ty trong nước phải nỗ lực tìm
mọi biện pháp nâng cao vị thế của mình trên thương trường, tạo ra sản phẩm với
chất lượng tốt và giá hấp dẫn cùng với dịch vụ hoàn hảo.
- Tham gia vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo điều kiện cho đội
ngũ cán bộ của công ty được nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của mình.
Họ sẽ có điều kiện để học hỏi, va vấp từ đó rút ra những kinh nghiệm và nâng
cao kiến thức nghề nghiệp.
- Đối với các công ty thương mại tham gia cả 2 nghiệp vụ xuất khẩu và
nhập khẩu thì nhập khẩu có nghĩa là đẩy mạnh xuất khẩu của đơn vị. Hoạt động
nhập khẩu có thể giúp cho việc tiêu thụ hàng xuất khẩu thông qua hình thức
buôn bán hàng đổi hàng.
- Nhập khẩu có hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, giúp cho công
ty có thể đầu tư kinh doanh vào những lĩnh vực khác, mở rộng phạm vi kinh
doanh của mình. Ngoài ra:
- Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để chế độ tự cung tự
cấp của nền kinh tế đóng.
5
- Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài
nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát
huy lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá.
3- Các hình thức kinh doanh nhập khẩu
3.1- Nhập khẩu trực tiếp
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong
nước và quốc tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu, tuân thủ đúng chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.
Trong hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp
làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán, ký kết hợp đồng và phải bỏ
vốn để tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu.
3.2- Nhập khẩu uỷ thác
Là hoạt động nhập khẩu được hình thành giữa một doanh nghiệp trong
nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu thiết bị toàn bộ, uỷ thác cho
một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp giao dịch ngoại
thương tiến hành nhập thiết bị toàn bộ theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác
phải tiến hành với nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu
của bên uỷ thác và được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
II- CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬP KHẨU
1- Các nhân tố bên trong Công ty
1.1-Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính
Cần phải có một bộ máy lãnh đạo hoàn chỉnh, không thừa không thiếu và tổ
chức phân cấp quản lý, phân công lao động trong mỗi doanh nghiệp sao cho phù
hợp. Nếu bộ máy cồng kềnh không cần thiết sẽ làm cho việc kinh doanh của
doanh nghiệp không có hiệu quả và ngược lại.
6
1.2- Nhân tố về con người
Trong công tác nhập khẩu, từ khâu tìm thị trường, khách hàng đến ký kết
hợp đồng nhập khẩu đòi hỏi cán bộ phải nắm vững chuyên môn và hết sức năng
động.
2- Các nhân tố bên ngoài Công ty
2.1- Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt nam và đồng tiền thanh toán ảnh hưởng rất
nhiều đến hoạt động nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái nhiều khi là không cố định, sẽ
lên xuống thay đổi. Chính vì vậy các doanh nghiệp có thể thông qua nghiên cứu
và dự đoán xu hướng biến động của tỷ giá hối đoái để đưa ra các biện pháp nhập
khẩu phù hợp, lựa chọn bạn hàng có lợi, lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn đồng
tiền tính toán, đồng tiền thanh toán.
Tương tự, tỷ suất ngoại tệ cũng nhu “một chiếc gậy vô hình”làm thay đổi
chuyển hướng giữa các mặt hàng, giữa các phương án khinh doanh của doanh
nghiệp xuất nhập khẩu.
2.2- Các yếu tố chính trị, luật pháp.
Các yếu tố chính trị, luật pháp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua bán
quốc tế. Các công ty kinh doanh nhập khẩu đều phải tuân thủ các qui định của
chính phủ liên quan, tập quán và luật pháp quốc gia, quốc tế liên quan. Khi tham
gia hoạt động kinh tế nói chung, kinh doanh nhập khẩu nói riêng các nhà kinh
doanh cần lưu ý đến:
- Các quy định của luật pháp Việt Nam đối với hoạt động mua bán quốc tế
(thuế, thủ tục qui định về mặt hàng xuất nhập khẩu, qui định về quản lý ngoại
tệ )
- Các hiệp ước, hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia.
- Các vấn đề về pháp lý và tập quán quốc tế liên quan đến việc xuất nhập
khẩu ( Công ước viên về hợp đồng mua bán hàng quốc tế năm 1950, luật bảo
7
hiểm quốc tế, luật vận tải quốc tế, các qui định về giao nhận ngoại thương,
INCOTERM 90, 2000 )
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể
đưa ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu. Chẳng hạn
chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá đòi hỏi
phải tranh thủ nhập khẩu những công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại. Cấm nhập
khẩu công nghệ cũ, lạc hậu so với công nghệ trong nước đang sử dụng và dễ gây
ô nhiễm môi trường đã được qui định trong luật bảo vệ môi trường.
2.3- Yếu tố hạ tầng cơ sở phục vụ hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế ảnh hưởng
trực tiếp đến nhập khẩu.Chẳng hạn:
- Hệ thống cảng biển được trang bị hiện đại cho phép giảm bớt thời gian
bốc dỡ , thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá được mua
bán.
- Hệ thống ngân hàng : Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đặc biệt là
hoạt động ngân hàng cho phép các nhà kinh doanh thuận lợi trong việc thanh
toán, huy động vốn. Ngoài ra ngân hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà
kinh doanh bằng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
- Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng cho phép các hoạt động mua bán
hàng hoá quốc tế được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt được
mức độ thiệt hại có thể xẩy ra đối với các nhà kinh doanh trong tường hợp xẩy
ra rủi ro
2.4- Yếu tố thị trường trong và ngoài nước
Tình hình và sự biến động của thị trường trong và ngoài nước như sự thay
đổi, xu hướng thay đổi của giá cả, khả năng cung cấp, khả năng tiêu thụ và xu
hướng biến động dung lượng của thị trường Tất cả các yếu tố đó đều ảnh
hưởng đến nhập khẩu.
8
III- QUI TRÌNH NHẬP KHẨU
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp
vụ khác nhau, từ điều tra nghiên cứu thị trường trong nước, tìm kiếm thị trường
cung ứng nước ngoài đến việc thực hiện hợp đồng, bán hàng nhập khẩu ở thị
trường trong nước. Các khâu, các nghiệp vụ này cần phải đặt trong mối quan hệ
hữu quan nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, phục vụ kịp thời cho nhu cầu trong
nước. Do đó, người tham gia kinh doanh nhập khẩu hàng hoá phải nắm chắc các
nội dung hoạt động nhập khẩu hàng hoá.
9
Hình 1 – Sơ đồ quy trình nhập khẩu hàng hoá
1- Chuẩn bị giao dịch.
1.1. Nghiên cứu thị trường.
Vấn đề nghiên cứu thị trường để có một hệ thống thông tin về thị trường
đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ làm cơ sở cho doanh nghiệp có những quyết định
đúng đắn, đáp ứng được các tình thế của thị trường. Đồng thời hệ thống thông
tin không những làm cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn được các đối tác giao dịch
thích hợp mà còn làm cơ sở cho quá trình giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng
và thực hiện các hợp đồng sau này có hiệu quả. Chỉ có thể phản ứng linh hoạt và
có các quyết định đúng đắn trong quá trình giao dịch đàm phán khi có các thông
10
Chu n b giao d chẩ ị ị
Giao d ch, m phán vị đà à
ký k t h p ng nh pế ợ đồ ậ
kh u h ng hoá ẩ à
T ch c th c hi n h pổ ứ ự ệ ợ
ng nh p kh u đồ ậ ẩ
Thuê
ph nươ
g ti nệ
v n t iậ ả
Mua
b oả
hi mể
h ngà
hoá
L mà
thủ
t cụ
h iả
quan
Nhậ
n
h ngà
Kiể
m tra
h ngà
hoá
nh pậ
kh uẩ
L mà
thủ
t cụ
thanh
toán
Khiế
u n iạ
và
gi iả
quy tế
khi uế
n iạ
tin đầy đủ. Do đó, ngoài việc nắm vững tình hình trong nước và đường lối chính
sách, luật lệ quốc gia có liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại, đơn vị kinh
doanh ngoại thương cần phải nhận biết hàng hoá kinh doanh, nắm vững thị
trường và lựa chọn khách hàng.
1.1.1 Nghiên cứu thị trường trong nước.
*Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
Mục đích của việc nghiên cứu này là để tìm ra mặt hàng nhập khẩu mà nhu
cầu trong nước đang cần nhưng phải phù hợp với điều kiện và mục tiêu lợi
nhuận của doanh nghiệp. Muốn biết mặt hàng nào đang được khách hàng, người
tiêu dùng trong nước cần, đang là nhu cầu cần thiết của thị trường trong nước thì
doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu khảo sát và trả lời được các câu hỏi sau:
- Thị trường đang cần mặt hàng gì? (Về qui cách, phẩm chất, kiểu dáng,
bao bì, nhãn hiệu )
- Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào? Phải hiểu rõ tập quán tiêu
dùng, thị hiếu và qui luật biến động của quan hệ cung cầu để có thể đáp ứng kịp
thời nhu cầu của thị trường một cách tốt nhất.
- Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm?
- Tình hình sản xuất ra sao?
- Tỷ suất ngoại tệ là bao nhiêu? Trong thương mại quốc tế các nước có hệ
thống tiền tệ khác nhau, do vậy việc tính toán tỷ suất ngoại tệ cho hàng hoá xuất
nhập khẩu là rất quan trọng. Doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu so sánh
giữa tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu với tỷ suất ngoại tệ lúc đầu tư ban đầu để
nhập hàng.
*Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng.
Dung lượng thị trường của một hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi
thị trường nhất định ( thế giới, khu vực, dân tộc ) trong một thời gian nhất định (
thường là một năm ).
Nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu thật của khách
hàng kể cả lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm,
11
từng vùng, từng khu vực. Cùng với việc nắm bắt nhu cầu là việc nắm bắt khả
năng cung cấp của thị trường, bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính chất, khả
năng của sản phẩm thay thế
Thông thường dung lượng thị trường chịu ảnh hưởng của 3 nhóm nhân tố
chính:
- Các nhóm nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi theo chu kỳ
như sự vận động của tư bản, đặc điểm sản xuất, lưu thông và phân phối sản
phẩm của từng thị trường đối với mỗi loại hàng hoá.
- Các nhân tố làm cho dung lượng thị biến đổi lâu dài như tiến bộ của khoa
học kỹ thuật và công nghệ, các biện pháp, các chính sách của nhà nước, thị hiếu,
tập quán của người tiêu dùng và ảnh hưởng của hàng hoá thay thế.
- Các nhân tố làm dung lượng thị trường biến đổi tạm thời như các hiện
tượng cũng gây ra các đột biến về cung cầu ngoài ra còn có những nhân tố
khách quan như hạn hán, lũ lụt
Khi phân tích sự ảnh hưởngcủa các nhân tố đến sự biến đổi của dung lượng
thị trường cần phải đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, xác định
nhân tố nào có ý nghĩa quyết đinh xu hướng vận động của thị trường trong thời
kỳ nghiên cứu từ đó xác định chính xác nhu cầu nhập khẩu mặt hàng đã luựa
chọn.
* Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh cũng nắm vững về thông tin số lượng các
đối thủ cạnh tranh trong mặt hàng kinh doanh, tình hình hoạt động, tỷ trọng thị
trường, thế mạnh, điểm yếu của các đối thủ. Đặc biệt cần nghiên cứu kỹ các
chiến lược kinh doanh và khả năng thay đổi chiến lược kinh doanh của đối thủ
cạnh tranh trong thời gian tới để đưa ra các phương án đối phó tối ưu, hạn chế
các điểm mạnh và tận dụng các điểm yếu của đối thủ cạnh tranh.
* Nghiên cứu sự vận động của môi trường kinh doanh.
Môi trường kinh doanh bao gồm môi trường tự nhiên, văn hoá, xã hội,
chính trị, luật pháp môi trường kinh doanh có tác động lớn và chi phối đến hoạt
12
kinh doanh của doanh nghiệp.Vì vậy doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên
cứu sự vận động của nó để từ đó có thể nắm bắt được qui luật vận động của môi
trường kinh doanh và có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
1.1.2- Nghiên cứu thị trường quốc tế
Nghiên cứu thị trường quốc tế là công việc rất khó khăn và phức tạp do sự
khác biệt lớn về chính trị, địa lý, văn hoá, phong tục tập quán Nghiên cứu thị
trường quốc tế cần xem xét các yếu tố cung cầu, giá cả, cạnh tranh
* Nguồn cung cấp hàng hoá trên thị trường quốc tế:
Doanh nghiệp cần nắm vững được tình hình các nguồn cung cấp trên thị
trường quốc tế mà doanh nghiệp có khả năng giao dịch rồi từ đó nghiên cứu các
đặc diểm thị trường các nước cung cấp trên các phương diện:
- Thái độ và quan điểm của nước cung cấp thể hiện qua các chính sách ưu
tiên xuất khẩu hay hạn chế nhập khẩu.
- Tình hình chính trị hay thái độ của quốc gia đó có ổn định không, có tác
động đến nguồn mặt hàng đó như thế nào?
- Về vị trí địa lý có thuận tiện cho giao dịch mua bán, có đem lại hiệu quả
kinh doanh hay không? Có tiết kiệm chi phí vận chuyển, bảo hiểm trong quá
trình nhập khẩu của doanh nghiệp không?
*Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường quốc tế:
Trên thị trường hàng hóa thế giới, giá cả chẳng những phản ánh mà còn
điều tiết mối quan hệ hàng hóa. Việc xác định đúng đắn giá cả hàng hóa trong
xuất khẩu và nhập khẩu có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả thương mại quốc tế.
Giá cả là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả ngoại thương.
Giá cả trong hoạt động xuất nhập khẩu là giá cả quốc tế, giá quốc tế có tính
chất đại diện đối với một loại hàng hóa trên thị trường thế giới. Giá đó phải là
giá giao dịch thương mại thông thường, không kèm theo một điều kiện đặc biệt
nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi được.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường thế giới:
- Nhân tố chu kỳ:
13
Tức là sự vận động có tính chất quy luật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
qua các giai đoạn của chu kỳ sẽ làm thay đổi quan hệ cung cầu của các loại hàng
hóa trên thị trường do đó làm biến đổi dung lượng thị trường và thay đổi về giá
cả các loại hàng hóa.
- Nhân tố lũng đoạn và giá cả:
Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc biến động giá cả hàng hóa trên thị
trường thế giới trong thời đại ngày nay. Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá
đối với cùng một loại hàng hóa trên cùng một trường, tùy theo quan hệ giữa
người mua và người bán trên thị trường thế giới có giá lũng đoạn cao và giá lũng
đoạn thấp.
- Nhân tố cạnh tranh:
Cạnh tranh có thể làm cho giá biến động theo xu hướng khác nhau. Cạnh
tranh giữa người bán xảy ra khi trên thị trường cung có xu hướng lớn hơn cầu.
Nhiều người cùng bán một loại hàng hóa, cùng một chất lượng, thì dĩ nhiên ai
bán giá thấp người đó sẽ chiến thắng, vì vậy giá cả có xu hướng giảm xuống.
Cạnh tranh giữa những người mua xảy ra khi trên thị trường xuất hiện xu
hướng cung không theo kịp với nhu cầu, khi đó giá sẽ có xu hướng tăng.
- Cung cầu và giá cả:
Mối quan hệ giữa cung cầu thay đổi trên thị trường sẽ thúc đẩy xu hướng
giảm giá. Ngược lại nếu cung không theo kịp cầu giá cả có xu hướng tăng lên.
- Nhân tố lạm phát:
Giá cả của hàng hóa không những được quyết định bởi giá trị hàng hóa mà
còn phụ thuộc vào giá tiền tệ-vàng. Trong điều kiện hiện nay giá cả không biểu
hiện trực tiếp ở vàng mà bằng tiền giấy. Trên thị trường thế giới giá cả hàng hóa
thường được biểu hiện bằng đồng tiền của những nước có vị trí quan trọng trong
mậu dịch quốc tế như: USD, DEM, GBP, JPY, FRF Do đặc điểm của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa nên giá trị của những đồng tiền này cũng luôn thay đổi, việc
thay đổi ấy thường gắn với lạm phát. Lạm phát làm cho giá trị của hàng hóa biểu
hiện bằng tiền giấy tăng lên.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét