Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Chính sách ngoại thương VN hiện nay

1.2. Những hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của Ngoại thương:
Diện tích đất canh tác bình quân đầu người của ta thấp so với bình quân của thế giới.
Sản lượng lương thực có cao nhưng trước hết phải đảm bảo nhu cầu của dân nên không
thể tạo ra 2 nguồn tích lũy lớn cho những đòi hỏi cao của sự phát triển kinh tế.
Về tài nguyên tuy có phong phú nhưng phân bố tản mạn. Giao thông vận tải kém nên
khó khai thác, trữ lượng chưa xác định và chưa khoáng sản nào có trữ lương lớn để trở
thành mặt hàng chiến lược. Tài nguyên rừng, biển, thủy sản bị khai thác quá mức mà
không được chăm bối.
Vị trí địa lý hẹp nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ, đường xá và
phương tiện giao thông lạc hậu.
Trình độ quản lý kinh tế, xã hội kém, bộ máy chính quyền kém hiệu quả, quan lieu,
tham nhũng; chính sách, pháp luật không rõ ràng, thiếu đồng bộ, lại hay thay đổi gây
cản trở cho quá trình đổi mới kinh tế.
Trình độ quản lý của cán bộ và tay nghề công nhân còn thấp cho nên năng suất lao
động thấp, chất lượng hàng hóa chưa cao.
Công nghệ và trang thiết bị của nhiều ngành kinh tế còn ở trình độ thấp, hàng hóa
của Việt Nam chưa mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Những năm đầu thế kỷ 21, trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam có nhiều điều
kiện thuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế ngoại thương, tạo điều kiện cho đất nước
hòa nhập với nền kinh tế kinh tế thế giới. Tuy nhiên còn có nhiều khó khăn trở ngai cho
tiến trình này. Việc đề ra một đường lối phát triển ngoại thương phù hợp cho phép khai
thác nhưng những lợi thế, hạn chế tối thiểu những trở ngại mang tính cấp bách và thiết
thực.
1.3. TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY:
1.3.1. Xuất khẩu:
• Vai trò của xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay:
Xuất khẩu hàng hóa không chỉ đơn giản là bán hàng hóa ra nước ngoài, xuất khẩu có
tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển kinh tế đất nước. Tầm quan trọng của xuất
khẩu thể hiện qua các vai trò sau:
• Thứ nhất, xuất khầu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập
khẩu và tích lũy phát triển sản xuất.
• Thứ hai, đẩy mạnh xuất khẩu được xem như là yếu tố quan trọng kích thích sự
tăng trưởng kinh tế: Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản
xuất , nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu gây phản ứng dây
chuyền giúp các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả là tăng tổng sản
phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển theo, kết quả là tăng tổng sản phẩm xã hội
và nền kinh tế phát triển nhanh , hiệu quả.
• Thứ ba, xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản
xuất: Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường về quy cách, chất lượng sản phẩm
thì một mặt phải đổi mới trng thiết bị phục vụ sản xuất, một mặt người lao động
phải nâng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.
• Thứ tư, đầy mạnh xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế
ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương
đối của đất nước.
• Thứ năm, đẩy mạnh xuất khẩu làm cho sản lượng sản xuất của quốc gia sẽ tăng
thông qua mở rộng với thị trường quốc tế.
• Thứ sáu, đẩy mạnh phát triển xuất khẩu có tác động tích cực và có hiệu quả đến
nâng cao mức sống của nhân dân.
• Thứ bảy, đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường hợp tác quốc tế giữa các
nước.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu là hướng phát triển có tính chất chiến lược để đưa
nước ta thành nước công nghiệp mới trong giai đoạn hiện nay.
• Định hướng phát triển xuất khẩu giai đoạn 2001-2010
Mục tiêu hành động của thời kỳ này là tiếp tục chủ trương giành ưu tiên cao nhất
cho xuất khẩu; tạo nguồn hàng có chất lượng, có giá trị gia tăng và sức mạnh cao để
xuất khẩu, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
thời kỳ 2001- 2010 phải đạt mức tăng tưởng bình quân từ 15% năm trở lên.
Dựa vào kết quả xuất khẩu giai đoạn 10 năm, 1990- 2000, tốc độ xuất khẩu nước
ta tăng trưởng bình quân 22% năm, Chính phủ đã đưa ra 1 định hướng phấn đấu tăng
trưởng thấp hơn nhiều giai đoạn trước đó. Chỉ tiêu phấn đấu này phù hợp với tình
hình thực tế, dự kiến, sau năm 2005, khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt
động, kim ngạch xuất khẩu dầu thô sẽ giảm, trong khi phần kim ngạch này chiếm tỷ
trọng khoảng 20% so với tổng kim ngạch xuất khẩu.
Về cơ cấu hàng xuất khẩu, Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 định ra
rằng “ cơ cấu xuất khẩu phải được chuyển dịch mạnh theo hướng tăng các sản phẩm
biến chế, chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao;
bên cạnh đó phải quan tâm khai thác các mặt hàng chủ yếu sử dụng nguyên vật liệu
tại chỗ, sử dụng nhiều lao động mà thị trường trong cũng như ngoài nước có nhu
cầu; đồng thời phải khai thác mọi nguồn hàng có khả năng xuất khẩu.
Cơ cấu xuất khẩu hiện nay của chúng ta mặt hàng thô vẫn còn chiếm tỷ trọng rất
cao.Tỷ trọng mặt hàng điện tử và dệt may có gia tăng, nhưng rõ ràng, các sản phẩm
“chế tạo” của chúng ta chiếm tỷ trọng còn rất bé trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 còn nêu các vấn đề về cơ sơ hạ tầng, về
qui hoạch sản xuất và thị trường xuất khẩu như sau:
- chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lượng từng sản phẩm xuất khẩu; giảm
xuất khẩu chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằng công nghệ mới.
- phải có qui hoạch vùng cho từng nhóm sản phẩm; từng bước xây dựng tiêu chuẩn
chất lượng quốc gia cho các loại hàng hóa xuất khẩu với nhãn hiệu “sản xuất tại
Việt Nam”.
Sản phẩm xuất khẩu phải đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của thị trường thế
giới, đặc biệt là yêu cầu về chất lượng, mẩu mã hàng hóa. Mối loại hàng hóa phải
hình thành được thị trường chính, chủ lực và tập trung khả năng mở rộng các thị
trường này, đồng thời chủ động mở rộng sang các thị tường khác theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa theo quan hệ buôn bán, từng bước giảm dần việc xuất khẩu
qua cá thị trường trung gian. Định hướng chung là tận dụng mọi khả năng để duy trì
tỷ trọng xuất khẩu hợp lý vào các thị trường đã có ở châu Á, Nhật; thị trường có sức
mua lớn như Mỹ, Tây Âu, thâm nhập Đông Âu, châu Mỹ , Phi.
• Một số chính sách có thể sử dụng nhằm hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu:
• Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực:
Hàng chủ lực là loại hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất khẩu do có
thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi.Việc xác định mặt
hàng chủ lực có vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp tập trung đầu tư, cải tiến công
nghệ, đứng vững trên thị trường cạnh tranh, tạo điều kiện mở rộng thương mại và tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu.
• Gia công xuất khẩu
Gia công xuất khẩu là một hình thức xuất khẩu lao động nhưng là loại lao động dưới
dạng được sử dụng tại chỗ ( được thể hiện trong hàng hóa), chứ không phải dưới dạng
xuất khẩu nhân công ra nước ngoài.
• Đầu tư cho xuất khẩu
Theo các nhà chuyên môn, mức tiêu dùng thực tế của dân ta trong những năm gần
đây thực tế đã giảm. Nhà nước đang có chủ trương kích cầu chính là tăng mức tiêu dùng
của dân cư nhằm tạo ra tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế quốc dân. Vai trò đẩy mạnh
xuất khẩu đang là hướng trọng điểm nhằm cải thiện mức tổng cung, tăng thu nhập cho
nông dân, đạt mục tiêu kích cầu đã đề ra.
Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu: gồm vốn đầu tư trong nước và nước
ngoài ( gồm ODA, FDI, vốn vay thương mại từ nước ngoài, vốn đầu tư của các cơ quan
ngoại giao….)
• Lập các khu chế xuất:
Lợi ích :
- Thu hút được vốn và công nghệ.
- Tăng cường khả năng xuất khẩu tại chỗ
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
- Góp phần làm cho nền kinh tế nước chủ nhà hòa nhập với nền kinh tế thế giới và
của các nước trong khu vực.
• Nhà nước thực hiện bảo hiểm đối với XK:
Để khuyến khích thương nhân mạnh dạn đẩy mạnh xuất khẩu bằng cách bán
chịu, các quỹ bảo hiểm xuất khẩu của nhà nước đứng ra đền bù nế bị mất vốn.
• Nhà nước thực hiện tín dụng xuất khẩu:
• Nhà nước thực hiện trợ cấp xuất khẩu:
Đây là sự ưu đãi về tài chính mà nhà nước dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi
họ bán được hàng ra thị trường bên ngoài, giúp cho cá doanh nghiệp tăng thu nhập; tạo
điều kiện để doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, tạo
điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu.
Có 2 loại trợ cấp xuất khẩu: trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp. Về mức độ trợ cấp:
xu hướng chung là tăng cường trợ cấp gián tiếp, trợ cấp trực tiếp có xu hướng giảm vì
nếu phát triển loại hình này nhìn chung không phù hợp với xu hướng mậu dịch thế giới
ngày càng tự do hóa.
• Chính sách về tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng, cụ thể là đẩy xuất khẩu để thu nhiều ngoại tệ
cho đất nước. Nhà nước phải tiến hành điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo các quá trình lạm
phát có liên quan tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện cạnh tranh thành
công trên thị trường quốc tế.
Từ những năm 1991 trở về trước, nhà nước ta chưa xây dựng được chính sách ngội hối
cho thích hợp. Hiện nay, tỷ giá hối đoái được ngân hàng trung ương công bố hàng ngày,
các ngân hàng thương mại giao dịch mau bán với biên độ là 0.5% so với tỷ giá hối đoái
ngân hàng trung ương qui định.
• Các biện pháp thuộc về cơ chế tổ chức quản lý kinh doanh xuất nhập khẩu
của nhà nước:
Nhóm biện pháp này thực sự ra là những hình thức trợ cấp gián tiếp cho xuất khẩu,
có thể thực hiện các biện pháp này như sau:
Nhà nước thành lập các viện nghiên cứu để tổng hợp và cung cấp thông tin cho nhà
xuất khẩu.
Nhà nước tổ chức các trường đào tạo các loại chuyên gia, các cán bộ khoa học kỹ
thuật để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp xuất khẩu.
Nhà nước lập các phòng thương mại thuộc đại sứ quán ở các nước ta mà nước ta có
quan hệ ngoại giao để nghiên cứu chính sách thương mại, luật, thị trường hàng hóa…
Nhà nước đứng ra ký kết các hiệp định về thương mại, hiệp định về hợp tác kinh
doanh trên cơ sở đó để thúc đẩy XNK.
1.3.2. Nhập khẩu:
• Vai trò của nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay;
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu tác động 1
cách trực tiếp và quyết định sản xuất và đời sống trong nước.
- Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa đất nước
- Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế.
- Góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu vừa thỏa
mãn nhu cầu trực tiếp về hàng tiêu dùng ; đảm bảo đầu vào cho sản xuất,tạo việc
làm ổn định cho người lao động đồng thời qua đó tác động tích cực lại công tác
xuất khẩu.
• Nguyên tắc của chính sách nhập khẩu:
Chính sách nhập khẩu cảu nước ta hiện nay phải được đề ra phù hợp với những
nguyên tắc chung về chính sách bào hộ mậu dịch của các tổ chức quốc tế.
- Sử dụng ngoại tệ với tinh thần tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao,.
- Dành ưu tiên cho việc nhập khẩu tư liệu sản xuất đồng thời có chú ý thích đáng
nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu cho đời sống nhân dân.
- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước tong nước phát triển, tăng nhanh xuất
khẩu
- Kết hợp giữa nhập khẩu và xuất khẩu
- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước nước phát triển, tăng nhanh xuất khẩu
- Kết hợp giữa nhập khẩu và xuất khẩu
- Xây dựng thị trường nhập khẩu ổn định vững chắc và lâu dài.
• Chính sách nhập khẩu của Việt Nam :
Chính sách nhập khẩu giai đoạn 2001- 2010 được đề ra cụ thể như sau:
- Nhập khẩu phải được định hướng chặt chẽ; tăng trưởng bình quân của nhập khẩu
cả thời kỳ 2001- 2010 được duy trì ở mức 145 năm.
- Chú trọng nhập khẩu công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành chế biến
nông, lâm, thủy hải và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ; đồng thời phải gắn với
việc phát triển, sử dụng các công nghệ , giống cây con và vật liệu mới được sản
xuất trong nước.
Hàng nhập khẩu có thể chia làm 3 nhóm ngành hàng:
• Thiết bị máy móc: Gồm máy móc, nguyên vật liệu, công nghệ được nhập bảo
đảm sự hoạt động hoàn chỉnh của công trình. Khi nhập khẩu thiết bị phải cố gắng
đạt được các yêu cầu theo thứ tự ưu tiên sau:
- Kỹ thuật tiên tiến, chất lượng tốt.
- Cho phép sản xuất sản phẩm xuất khẩu với khả năng cạnh tarnh cao.
- Giá cả phải chăng, có điều kiện thanh toán lợi nhuận.
- Phù hợp với điều kiện sản xuất và trình độ tay nghề của công nhân.
- Mang lại hiệu quả kinh tế cao.
• Nguyên nhiên vật liệu:
Hàng năm tỉ trọng nhập khẩu khẩu nhóm ngành hàng này rất cao vì để thỏa mãn
40-90 % nhu cầu nguyên liệu trong nước.
Nguyên liệu vật liệu được nhập khẩu dựa vào nhu cầu thực tế của sản xuất đồng
thời phải theo quan điểm tận dụng nguyên nhiên vật liệu trong nước, sử dụng tiết
kiệm và hiệu quả.
• Hàng tiêu dùng:
Nhập khẩu hàng tiêu dùng sẽ được thực hiện để đáp ứng nhu cầu trong nước đồng
thời cũng phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong nước như
sau:
- Cơ cấu hàng tiêu dùng trong toàn bộ kim ngạch nhập khẩu ở mức độ vừa phải.
- Nhập khẩu có tác dụng khuyến khích và bảo vệ sản xuất hàng tiêu dùng trong
nước. Khuyến khích sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng là chiến
lược kinh tế cơ bản của nhà nước ta.
- Cân nhắc mặt hàng tiêu dùng.
Ngoài ra, để nèn kinh tế có thể phát triển được cần phải nhập khẩu cả dịch vụ và
bằng phát minh sáng chế.
1.4. Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO:
Sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương nói chung, đặc biệt hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển.
Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn,
những hạn chế và rào cản thuế đối với hàng hoá Việt Nam được cắt giảm. Chúng ta
có thị trường xuất khẩu rộng lớn đã và sẽ được cắt giảm cùng các biện pháp phi quan
thuế cũng sẽ được loại bỏ theo Nghị định thư gia nhập của các thành viên này mà không
bị phân biệt đối xử; tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài cho các sản phẩm của
nước ta.
• Về xuất khẩu hàng hoá :
Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73% GDP,
tăng 33,9% so với năm 2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2008 đạt
mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó. Khu vực doanh nghiệp FDI đạt kim
ngạch xuất khẩu 37,3 tỷ USD (kể cả dầu khí), chiếm tỷ trọng 57,4% tổng kim ngạch cả
nước và tăng 34,6% so với năm 2007. Doanh nghiệp vốn trong nước chỉ đạt 27,7
tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42,6% tổng kim ngạch cả nước và tăng 36,5% so với năm 2007.
Năm 2007 – 2008, tốc độ xuất khẩu tăng nhanh hơn 2 lần so với tốc độ tăng GDP;
tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cao gấp 1,6 lần so với tổng giá trị GDP. Gia
nhập WTO, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam duy trì và mở rộng cả thị trường
truyền thống và thị trường xuất nhập khẩu lớn của thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản,
đến năm 2008 Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 230 nước trên thế giới, trong đó
hàng hoá của ta xuất sang 219 nước.
Trong 3 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng. Một số mặt hàng tăng
khá, mặt hàng gạo đạt 1.743 nghìn tấn, tăng 71,3%; Hạt tiêu: 25 nghìn tấn, tăng 64,5%.
• Về nhập khẩu hàng hoá :
Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 của Việt nam đạt 84 tỷ USD, tăng 34% so với năm
2007. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
là 28,5 tỷ USD, chiếm 33,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100%
vốn trong nước ước đạt 55,5 tỷ USD, chiếm 66,1% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước
và tăng 35,5% so với năm 2007.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là máy móc, thiết bị, phụ tùng, xăng dầu,
thép… Thị trường nhập khẩu năm 2008 tập trung chủ yếu vào Châu Á, trong đó nổi bật
là các thị trường Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan…
Nhập khẩu quý I/ 2009 giảm mạnh. Một số mặt hàng giảm mạnh như: sữa và sản
phẩm sữa thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, xăng dầu…
Thời gian qua chúng ta cũng đã thực hiện tích cực các biện pháp kiềm chế nhập khẩu
như tăng thuế nhập khẩu với một số mặt hàng như ôtô và linh kiện ôtô, vàng; kiểm soát
nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu; tiết giảm tiêu dùng và cắt giảm đầu tư…đã góp phần
kiềm chế nhập khẩu và giảm nhập siêu một cách hiệu quả. Bên cạnh những tác động
thuận lợi khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng gặp phải những thách thức như: Gia nhập
WTO đòi hỏi tự do hoá thương mại và áp dụng các nguyên tắc tối huệ quốc và đối
xử quốc gia, điều này tất yếu dẫn đến tình trạng cạnh tranh ngày càng quyết liệt ngay
trên thị trường nội địa. Đặc biệt các doanh nghiệp Việt Nam vốn đã quen với việc sản
xuất những hàng hoá và dịch vụ phục vụ thị trường nội địa trong điều kiện có bảo
hộ bằng thuế quan hoặc các hàng rào phi thuế quan thì nay phải cạnh tranh với các
doanh nghiệp nước ngoài, đây là một thách thức vô cùng lớn, nếu không có lợi thế tất
yếu sẽ bị loại bỏ, trước hết là các doanh nghiệp thương mại. Như vậy sẽ gia tăng sức ép
cạnh tranh quốc tế khắc nghiệt ngay trong thị trường nội địa. Các cơ sở xuất khẩu của
Việt Nam chưa có biện pháp ứng phó hiệu quả với các rào cản thương mại và những
biến động khó lường của thị trường thế giới, bởi các rào cản thương mại quốc tế được
các nước nhập khẩu dựng lên ngày càng tinh vi, phức tạp và tỷ giá hối đoái biến động
trên thị trường thế giới theo hướng bất lợi cho hoạt động xuất khẩu. Năng lực cạnh
tranh phần lớn sản phẩm của ta là thấp. Hiện nay các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu
hàng đầu của Việt nam vẫn là các mặt hàng sử dụng tài nguyên thiên nhiên và công
nghiệp nhẹ, sử dụng lao động rẻ. Nhập siêu của Việt Nam hiện còn ở mức cao tác động
xấu đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế. Mức thuế quan của Việt
Nam còn tương đối cao so với các nước trong khu vực cũng như thế giới. Theo nguyên
tắc của WTO là chỉ sử dụng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước, do vậy Việt Nam
phải xây dựng lộ trình cắt giảm các hàng rào phi thuế quan một cách hợp lý, đây cũng là
thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam…
Một trong những công cụ đắc lực, rõ ràng, ổn định, thuận tiện, là bộ phận không
thể thiếu trong biện pháp thực hiện chính sách ngoại thương, đó là thuế quan.
2. THUẾ QUAN VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM TRONG
THỜI KÌ HIỆN NAY.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với 160 nước và vùng
lãnh thổ, tham gia 86 hiệp định thương mại, 46 hiệp định hợp tác đầu tư và 40 hiệp
định chống đánh thuế 2 lần, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70 nước,
chính thức là thành viên thứ 150 của WTO năm 2006. Đối với mỗi quốc gia, thuế
quan có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ nền sản xuất trong nước; đóng góp
nguồn thu cho ngân sách và điều tiết hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của mỗi quốc
gia.
2.1. Vài nét về thuế quan:
• Thuế quan (Tariff) :
-Là thuế chính phủ đánh vào hàng hóa được chuyên chở qua biên giới quốc gia hoặc
lãnh thổ hải quan, là công cụ bảo hộ lâu đời nhất trong thương mại nhằm điều chỉnh mối
quan hệ giữa thị trường rong nước và thị trường quốc tế. Thuế quan gồm thuế đánh vào
hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu (thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu).
-Thuế xuất khẩu là một công cụ mà các nước đang phát triển thường sử dụng để
đánh vào một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia. Trái lại, ở nhiều nước phát triển
người ta không sử dụng thuế xuất khẩu do họ không đặt mục tiêu tăng nguồn thu ngân
sách từ thuế xuất khẩu. Vì vậy, ở những nước đó, khi nói tới thuế quan người ta đồng
nhất nó với thuế nhập khẩu. Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau
mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan. Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy
định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế khi
xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp
tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia. Có hai biểu thuế quan là
biểu thuế quan đơn và biểu thuế quan kép. Biểu thuế quan đơn là biểu thuế quan trong
đó chỉ quy định một mức thuế quan cho mỗi loại hàng hóa. Hiện nay, hầu hết các nước
không còn áp dụng biểu thuế quan này. Biểu thuế quan kép là biểu thuế quan trong đó
mỗi loại hàng hóa quy định từ hai mức thuế trở lên. Những loại hàng hóa có xuất xứ
khác nhau sẽ chịu những mức thuế khác nhau.
-Thuế quan có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, theo phương pháp
tính thuế, thuế quan được chia thành thuế quan đặc định, thuế suất theo giá trị và thuế
suất hỗn hợp. Thuế suất đặc định là thuế tính trên một đơn vị hiện vật của hàng hóa, ví
dụ thuế tính trên 1 tấn, 1 chiếc Thuế trị giá là thuế đánh vào giá trị hàng hóa và được
tính theo tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hóa đó. Thuế quan hỗn hợp là sự kết hợp giữa
thuế đặc trưng và thuế suất theo giá trị. Theo mục đích đánh thuế, thuế quan được phân
chia thành thuế quan tài chính và thuế quan bảo hộ. Thuế quan tài chính là thuế quan
nhằm vào mục tiêu tăng thu cho ngân sách quốc gia. Thuế quan bảo hộ là thuế quan
nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, làm giảm sức cạnh tranh của hàng nhập
khẩu. Theo mức thuế, thuế quan được chia ra mức thuế tối đa, mức thuế tối thiểu và
mức thuế ưu đãi. Mức thuế tối đa được áp dụng cho những hàng hóa có xuất xứ từ các
nước chưa có quan hệ thương mại bình thường. Mức thuế tối thiểu được áp dụng cho
những hàng hóa có xuất xứ từ các nước có quan hệ bình thường. Mức thuế ưu đãi được
áp dụng cho hàng hóa xuất xứ từ các nước có thỏa thuận hợp tác.
-Hoạt động thuế quan ở nước ta xuất hiện từ thời Lý (thế kỷ XI) và trở thành một
bộ phận hữu cơ của nền ngoại thương. Ngày 10-9-1945, Sở thuế quan và thuế gián thu
được thành lập. Thuế quan Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm
lược (từ 19-12-1946 đến tháng 7-1954): về cơ bản, luôn có mối quan hệ mật thiết với
các lực lượng vũ trang, dân quân du kích và ngoại thương. Thuế quan Việt Nam thời kỳ
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam đã
phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong mỗi giai đoạn lịch sử có nét đặc thù riêng.
-Ngày 29-12-1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp lần thứ 2 thông qua Luật Thuế
xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, đồng thời có ban hành kèm theo biểu thuế chung, biểu thuế
xuất nhập khẩu cho từng mặt hàng, chưa tách 2 biểu thuế riêng biệt. Biểu thuế này,
được xây dựng dựa trên danh mục hàng xuất nhập khẩu Việt Nam theo tiêu chuẩn của
Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV). Biểu thuế này hoàn toàn tuân theo từng mục
đích sử dụng. Nói chung, biểu thuế xuất nhập khẩu và cả Luật Thuế xuất khẩu, Thuế
nhập khẩu chỉ phù hợp cho giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Khi chuyển
sang nền kinh tế thị trường, Luật Thuế xuất - nhập khẩu cũ bộc lộ nhiều nhược điểm và
chưa bảo vệ nền sản xuất hàng hóa nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, tăng thu cho ngân
sách Vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng và trình Quốc hội thông qua
Luật Thuế xuất - nhập khẩu ngày 26-11-1991. Mục đích của thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu là bảo vệ nền kinh tế trong nước, tăng thu ngân sách cho Nhà nước và hướng dẫn
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Năm 1993, 1998 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu cho phù hợp với tình
hình kinh tế chính trị của từng giai đoạn lịch sử. Sau 20 năm đổi mới, nước ta đã hội
nhập sâu với nền kinh tế thế giới, tham gia và ký kết nhiều cam kết, hiệp định quốc tế.
Do đó, chính sách pháp luật cũng phải thay đổi để phù hợp với thông lệ quốc tế Ngày
7-11-2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, chúng ta phải thực hiện
Cam kết về thủ tục nhập khẩu.
Mức cam kết chung: Ta đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600
dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn
13,4% thực hiện dần trung bình trong vòng 5 - 7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng
nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong vòng 5 - 7
năm. Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5
- 7 năm.
-Mức cam kết cụ thể: Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu
là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh
tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô-tô, xe máy vẫn duy trì được
mức bảo hộ nhất định. Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá
và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử. Ta
đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim
loại, hóa chất là phương tiện vận tải. Ta cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp
định tự do theo ngành của WTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp. Đây là hiệp định
tự nguyện của WTO, nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành.
Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế.
Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm đối với ngành thiết bị
máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
• Vai trò của thuế quan:(bổ sung thêm)
Thuế quan ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc thu ngân sách quốc gia
(chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách). Trong giai đoạn 2001 - 2005, ngành hải quan
luôn đạt và vượt chỉ tiêu thu ngân sách, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ thu
ngân sách của Bộ Tài chính. Số thu năm sau luôn cao hơn số thu năm trước, cụ thể: năm
2001 đạt 29.381 tỷ đồng, năm 2002 đạt 36.784 tỷđồng, năm 2003 đạt 39.178 tỷ đồng,
năm 2004 đạt 46.017 tỷ đồng, năm 2005 đạt 52.000 tỷ đồng và năm 2006 đạt khoảng
58.000 tỷ đồng (tốc độ tăng thu bình quân hàng năm 15%).
Đây là một nỗ lực rất lớn của ngành hải quan trong bối cảnh chúng ta đang thực
hiện cắt giảm thuế quan theo các cam kết quốc tế (như cắt giảm thuế theo lộ trình thực
hiện CEPT trong ASEAN, các hiệp định song phương và gia nhập WTO). Đặc biệt, đây
là giai đoạn đầu thực hiện xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc của Hiệp định trị
giá GATT, tình trạng trốn thuế, gian lận qua giá còn khá phổ biến, nhưng ngành đã tập
trung chỉ đạo và đưa ra nhiều giải pháp nhằm đảm bảo nhiệm vụ thu thuế đồng thời
chống thất thu qua gian lận trị giá.
• Tác động của thuế quan đối với nền kinh tế.
Xét trên góc độ quốc gia đánh thuế thì thuế quan sẽ mang lại thu nhập thuế cho
nước đánh thuế. Nhưng đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, thuế quan lại làm giảm
phúc lợi chung do nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế thế giới.
Nó làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của
một quốc gia. Thuế quan có thể có những ảnh hưởng tiêu cực. Thuế quan cao sẽ ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa và do đó làm giảm lượng hàng hóa được
tiêu thụ. Thuế quan cao cũng sẽ kích thích tệ nạn buôn lậu. Thuế quan càng cao, buôn
lậu càng phát triển. Thuế xuất khẩu làm tăng giá hàng hóa trên thị trường quốc tế và giữ
giá thấp hơn ở thị trường nội địa. Điều đó có thể làm giảm lượng khách hàng ở nước
ngoài do họ sẽ cố gắng tìm kiếm các sản phẩm thay thế. Đồng thời nó cũng không khích
lệ các nhà sản xuất trong nước áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ để tăng
năng xuất, chất lượng và giảm giá thành. Tuy nhiên, nếu khả năng thay thế thấp, thuế
quan xuất khẩu sẽ không làm giảm nhiều khối lượng hàng hóa xuất khẩu và vẫn mang
lại lợi ích đáng kể cho nước xuất khẩu. Thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc
bảo hộ thị trường nội địa, đặc biệt là bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ. Thuế quan
nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng hóa, do vậy sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong
nước. Tuy nhiên, điều đó cũng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất
trong nước. Thuế nhập khẩu có thể giúp cải thiện thương mại của nước đánh thuế. Có
thể có nhiều sản phẩm mà giá của chúng không tăng đáng kể khi bị đánh thuế. Đối với
loại hàng hóa này thuế quan có thể khuyến khích nhà sản xuất ở nước ngoài giảm giá.
Khi đó lợi nhuận sẽ được chuyển dịch một phần cho nước nhập khẩu. Tuy nhiên, để đạt
được hiệu ứng đó, nước nhập khẩu phải là nước có khả năng chi phối đáng kể đối với
cầu thế giới của hàng hóa nhập khẩu.
2.2. Tình hình thuế quan hiện nay:
Tình hình xuất nhập khẩu tháng 9/2009 đã có những dấu hiệu tích cực so với dự
đoán từ đầu năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu của tháng 9 ước đạt gần 10,88 tỷ USD,
tăng 4,9% so với tháng 8/2009. Như vậy, với kết quả này thì tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu 9 tháng năm 2009 ước đạt 90 tỷ USD, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm 2008, trong
đó xuất khẩu ước đạt 41,7 tỷ USD, giảm 14,3% và nhập khẩu ước là 48,3 tỷ USD, giảm
25,2%.
Trong bối cảnh nhập khẩu tăng vào những tháng cuối năm, số thu của ngành Hải
quan đang có những dấu hiệu khả quan. Tính đến ngày 25/9/2009, số thu của ngành Hải
quan đạt 91.555 tỷ đồng, bằng 75,5% so với dự toán năm. Trong đó, thuế XNK và thuế
tiêu thụ đặc biệt đạt khoảng 47.529 tỷ đồng bằng 84% dự toán, thuế GTGT đạt 43.947
tỷ đồng, bằng 68% dự toán. Số thu khác chiếm khoảng 80 tỷ đồng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét