Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
VIỆC SỬ DỤNG KHẨU NGỮ
TRÊN BÁO CHÍ VIỆT NAM HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Báo chí xuất hiện do nhu cầu trao đổi thông tin của xã hội loài người.
Trong đó, ngôn ngữ là thông điệp chính, cơ bản nhất. Như vậy, có thể thấy
ngôn ngữ báo chí cũng là một bộ phận trong dòng chảy quy luật phát triển của
ngôn ngữ nói chung. Nghiên cứu những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học,
nhiều vấn đề liên quan đến ngôn ngữ báo chí được giải thích rõ ràng, thông
suốt. Trong khuôn khổ hạn chế, tiểu luận xin được trình bày một vài đặc điểm
về hiện tượng sử dụng khẩu ngữ trên báo chí Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở
những lý thuyết căn bản của ứng dụng Việt ngữ học và những vấn đề cụ thể của
ngôn ngữ báo chí, tiểu luận bàn về việc sử dụng khẩu ngữ như một hiện tượng
mang tính chất xã hội. Từ góc nhìn Việt ngữ học với lịch sử văn hóa dân tộc, ta
có thể giải thích cơ cấu và sự tiến hóa xã hội chi phối sự phát triển của ngôn
ngữ ra sao, nguyên nhân của sự xuất hiện và phát triển khẩu ngữ trên báo chí.
Đồng thời, tiểu luận cũng nêu những căn cứ khách quan về vấn đề định chuẩn
và khuôn mẫu luôn song hành cùng với những sáng tạo, phá cách và sai khác
của ngôn ngữ báo chí. Bởi có thể nói, sử dụng khẩu ngữ là đi ra ngoài những
nguyên tắc hành văn truyền thống của ngôn ngữ báo chí. Từ đó, tiểu luận đưa ra
một vài nhận xét về điểm tích cực và hạn chế của việc sử dụng khẩu ngữ hiện
nay.
Về kết cấu, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, tiểu luận gồm hai phần chính:
Phần một: Những vấn đề cơ bản về Chuẩn ngôn ngữ báo chí
1.1 Chuẩn ngôn ngữ báo chí
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2 Hiện tượng chệch chuẩn
Phần hai: Việc sử dụng khẩu ngữ trên báo chí hiện nay
2.1 Sử dụng khẩu ngữ trên báo chí Việt Nam là một xu thế tất yếu
2.2 Những điểm cần khắc phục đối với việc sử dụng khẩu ngữ trên báo chí
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHUẨN NGÔN NGỮ
TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Chuẩn ngôn ngữ báo chí
Báo chí nằm ở vị trí trung tâm trong mạng lưới các phương tiện thông tin
đại chúng. Khác với hình thức thông tin liên cá nhân, nội dung và hình thức của
thông điệp phải đảm bảo được tính phổ biến, đại chúng và công khai. Dù ở bất
cứ loại hình nào ( báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử), thông tin
cũng phải sử dụng văn bản để dàn dựng, sắp xếp, truyền tải thông điệp. Vì vậy,
ngôn ngữ là gốc căn bản của quá trình hình thành, xây dựng và truyền thông
điệp. Có thể truyền thông tin bằng ngôn ngữ nói hay chữ viết, nhưng ngôn ngữ
báo chí trước hết và chủ yếu là lĩnh vực ngôn ngữ học – xã hội. Vấn đề sử dụng
ngôn ngữ có tác động trực tiếp và quyết định nhất tới hiệu quả của thông tin báo
chí. Do vậy, ngôn ngữ báo chí trước hết phải là một thứ ngôn ngữ văn hóa
chuẩn mực.
Về khái niệm Chuẩn ngôn ngữ, cần xét trên hai phương diện: Chuẩn
mang tính chất quy ước xã hội và chuẩn phải phù hợp với quy luật phát triển
của nội tại ngôn ngữ trong từng giai đoạn nhất định. Xác định chuẩn ngôn ngữ,
đặc biệt là chuẩn ngôn ngữ báo chí, cần phải dựa trên những cứ liệu thực tế của
ngôn ngữ trên tất cả các cấp độ là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách.
Bên cạnh đó, cần phải xét những lý do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự
phát triển, thay đổi của nó: những biến đổi lớn lao trong xã hội, vai trò tác động
của các trào lưu, các nhóm xã hội…công cuộc Đổi mới và sự mở cửa cho một
nền kinh tế mới. Về mặt quy luật biến đổi nội tại của ngôn ngữ, nước ta đã có
những văn bản, những cuộc vận động Chuẩn hóa trên cơ sở nghiên cứu gốc rễ
từ nguyên, những biến đổi, sai khác, dị biệt trong hệ thống ngôn ngữ và quá
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trình phát triển. Về mặt tác động từ bên ngoài, báo chí thể hiện rõ ràng những
biến đổi của ngôn ngữ. Nền báo chí Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay đã trải
qua nhiều biến động xã hội ảnh hưởng đến Chuẩn. Thế nào được gọi là Chuẩn?
Ai định ra chuẩn? Chuẩn được xã hội chấp nhận như thế nào? Ví như trong thời
kì trước Cách Mạng Tháng Tám, ngôn ngữ báo chí chịu sự kiểm duyệt gắt gao
của thực dân, phát xít. Những quy định về Chuẩn ấy do giai cấp thống trị đề ra
và phục vụ cho quyền lợi của chúng, xã hội Việt Nam không thừa nhận và luôn
thể hiện sự phản kháng lại. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc,
những lớp từ, những phong cách báo chí thể hiện tính chất của cuộc chiến, của
lòng dân, ý Đảng được coi là chuẩn mực, đã kêu gọi tinh thần sục sôi của đồng
bào theo một ngọn cờ chung. Đến khi thực hiện công cuộc Đổi mới, mở cửa, tác
động của nền kinh tế thị trường và những luồng văn hóa, tư tưởng mới xâm
nhập và ảnh hưởng ngày càng sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống, ngôn
ngữ báo chí, văn phong báo chí đã biến đổi đa dạng, phong phú và phức tạp.
Những từ ngữ, cách diễn đạt của các giới, các nhóm xã hội, các thuật ngữ
chuyên ngành, của các trào lưu…phát triển mạnh hơn. Nào là ngôn ngữ
Internet, ngôn ngữ Hiphop, ngôn ngữ Manga (truyện tranh Nhật Bản) …xuất
hiện từ trong đời sống và đi vào báo chí. Ngôn ngữ báo chí hiện nay đang có rất
nhiều sự pha trộn phức tạp.
Quan điểm về chuẩn ngôn ngữ còn nhấn mạnh đến tính chất xã hội, đây
là một hiện tượng xã hội và phát triển có tính lịch sử. Đồng thời phải coi đây là
hiện tượng có tính quy luật bên trong của cấu trúc ngôn ngữ. Chuẩn ngôn ngữ là
mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng. Cố nhiên, sự đánh
giá, lựa chọn đó không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn và do vậy tính chất bắt
buộc và tính chất ổn định của chuẩn cũng chỉ là tương đối. Mặt khác, chuẩn
không phải là quy định mà là quy ước, không phải luật mà là chỉ dẫn.
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Có thể nói mỗi nhóm xã hội có thể đề ra Chuẩn ngôn ngữ cho riêng mình
và sử dụng trong phạm vi nhóm. Khi ảnh hưởng của nhóm rộng rãi, là đối
tượng các phương tiện thông tin đại chúng (mà đặc biệt là báo chí) thì ngôn ngữ
của nhóm (những từ chuyên biệt, cách diễn đạt, cách hiểu…) được sử dụng.
Quá trình thông tin, phản ánh này càng sâu rộng thì ngôn ngữ báo chí càng bị
ảnh hưởng sâu sắc.
Chuẩn ngôn ngữ bao gồm 2 nội dung căn bản là “Cái đúng” và “Sự thích
hợp”. Tất cả những cái mới, đang phát triển được các quy luật nội tại của quá
trình phát triển ngôn ngữ thừa nhận, phù hợp với cấu trúc của nó, dựa vào
những xu thế sáng tạo của nhân dân, dựa vào các quá trình mang tính tích cực
trong lĩnh vực ngữ pháp, ngữ nghĩa, sử dụng từ… đều không thể bị cho là
không đúng, không thể bị phủ nhận. Như vậy, cái Đúng được cộng đồng ngôn
ngữ hiểu và chấp nhận, là một trong những điều kiện để thừa nhận tính chuẩn
mực của ngôn ngữ. Trái ngược với cái Đúng là cái Sai. Đó là cái người tiếp
nhận không hiểu hoặc không chấp nhận vì nó không phù hợp với cách chung
mà cộng đồng đã lựa chọn, đã thừa nhận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến Sai:
do không nắm vững ngôn ngữ, bắt chước máy móc, sai do người viết cố ý tạo ra
sự độc đáo khác biệt để gây ấn tượng nhưng lại không đúng chuẩn được thừa
nhận.
Lép.Tôn xtôi đã nói: “Trước hết phải quan tâm sao cho công cụ truyền
đạt khái niệm, tức là ngôn ngữ phải đúng”. Cái đúng là yêu cầu bắt buộc trong
sử dụng ngôn ngữ báo chí ở tất cả các cấp độ. Bên cạnh đó cần phải có sự thích
hợp bởi thông tin đúng mà không thích hợp thì hiệu quả thông tin không cao.
Tính thích hợp còn nâng cao giái trị thẩm mỹ của ngôn từ.
1.2 Hiện tượng chệch chuẩn
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chức năng giao tiếp dẫn tới sự thống nhất mã ngôn ngữ. Ngược lại, chức
năng biểu hiện dẫn tới sự đa dạng mã ngôn ngữ. Ngôn ngữ báo chí mang cả 2
chức năng trên. Nếu chỉ dừng lại ở cách diễn đạt có tính chất khuôn mẫu thì khó
tránh khỏi sự khô cứng, đơn điệu, thậm chí tẻ nhạt.
Tính chuẩn mực tiên quyết của ngôn ngữ báo chí không loại trừ sự sáng
tạo cá nhân của nhà báo với tư cách là sự đi chệch chuẩn. Chệch chuẩn gắn liền
với phong cách nhà báo, là hết sức cần thiết, chệch chuẩn có thể tạo ra sự hấp
dẫn của bài báo.
Chuẩn ngôn ngữ có những quy luật và cách sử dụng, chúng tồn tại khách
quan trong một giai đoạn đối với một cộng đồng người và có tính chất bắt buộc
tương đối. Nhưng do ngôn ngữ luôn luôn vận động nên bên cạnh cái chuẩn
chung luôn tồn tại những biến thể. Trong số những biến thể có những cái được
gọi là Chệch chuẩn - chênh ra khỏi chuẩn mực, trên cơ sở nắm vững cái
“chuẩn”, chứ không phải là cái Sai.
Chệch chuẩn là 1 sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của người cầm bút, tạo
sự mới mẻ, táo bạo trong cách viết. Hiện tượng này thường xuất hiện ở cấu tạo
từ, tạo ngữ. Ví dụ như những cách diễn đạt “Tây quá” của cách nhà báo thời 30
– 45; cách sử dụng những cụm tính + danh từ (đảo ngược); cách mượn vốn từ
của lĩnh vực này để miêu tả một lĩnh vực khác…
Tuy nhiên, cần phải xét đến tính 2 mặt của hiện tượng chệch chuẩn.
Trước hết, chệch chuẩn là một hiện tượng có tính lâm thời, nó chỉ xuất hiện
trong 1 thời đoạn nhất định và mang những sắc thái biểu cảm nhất định. Chệch
chuẩn tạo sự độc đáo, lôi cuốn khi nó là sự sáng tạo cá nhân nhưng phù hợp và
được cả cộng đồng chấp nhận. Bên cạnh đó, chệch chuẩn mang sắc thái khoa
trương, ly kì hóa hình tượng nghệ thuật ngôn ngữ. Điều này dễ đưa ngòi bút của
tác giả đến sự sáo mòn và phạm lỗi thậm xưng. Hơn nữa nó chỉ thích hợp với
những thể loại và đề tài nhất định (VD: Sử dụng trong các thể loại phóng sự,
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
bút kí, tùy bút). Điều này giải thích vì sao hiện tượng này có tần suất sử dụng
trong lĩnh vực văn chương nhiều hơn. Trong báo chí, hiện tượng chệch chuẩn
phụ thuộc nhiều vào vốn từ, kiến thức, tài năng của nhà báo để làm sao chế định
được phong cách của mình với những đặc trưng của ngôn ngữ báo chí. Sáng
tạo, tìm tòi, sử dụng yếu tố mới không đồng nhất với việc máy móc, khoa
trương, lạm dụng. Có thể thấy rằng không phải những biến thể nào cũng được
coi là chệch chuẩn, thậm chí có những biến thể là cái Sai trong cách dùng từ,
cách diễn đạt. Ngôn ngữ báo chí hiện nay xuất hiện nhiều cách sử dụng ngôn từ,
cách diễn đạt khác nhau. Công chúng thừa nhận hiện tượng này bởi thực tế đời
sống xã hội có nhiều màu sắc, nhiều dáng vẻ, nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội cùng đua nhau chen lấn, biến đổi đến chóng mặt. Tuy nhiên không phải
phong cách nào khi xuất hiện cũng đều được công chúng chấp nhận.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN 2. VIỆC SỬ DỤNG KHẨU NGỮ TRÊN BÁO CHÍ VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1 Sử dụng khẩu ngữ trên báo chí Việt Nam là xu thế tất yếu
Một trong những biến thể của chuẩn ngôn ngữ báo chí là việc dùng từ, và
cách hành văn không theo lối văn viết. Đó là việc sử dụng văn nói - Khẩu ngữ.
Báo chí đã xuất hiện một bộ phận ngôn ngữ không chỉ thuộc vốn từ vựng của
ngôn ngữ văn hoá được dùng trong lời nói miệng, trong sinh hoạt hàng ngày,
mà còn có cả một số từ thông tục và từ lóng - những từ ngữ chuyên dùng trong
khẩu ngữ. Có người cho rằng, xu hướng chung hiện nay là “hội thoại hoá” ngôn
ngữ báo chí, sử dụng từ ngữ, thậm chí là cú pháp của khẩu ngữ để nó đơn giản
hơn, gần gũi hơn với cuộc sống thường ngày. Tuy nhiên, khẩu ngữ có phải là
hiện tượng chệch chuẩn làm tăng giá trị thẩm mỹ cho ngôn ngữ báo chí không?
hay chỉ là biểu hiện của việc dùng ngôn từ một cách bừa bãi, ẩu thả, quá đà…,
chúng ta cần phân tích trên cả hai mặt tích cực và hạn chế.
Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam, Khẩu ngữ (Parlando) là:
“Ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói, được sử dụng để trao đổi tư tưởng,
tình cảm trong sinh hoạt hàng ngày. Hình thức thông thường là đối thoại. Có
đặc điểm cơ bản là phát ngôn ngắn, đơn giản về cấu trúc, thiên về sắc thái
cảm xúc, nhiều biến thể phát âm”. Theo Từ điển Tiếng Việt- Trung tâm Từ
điển Ngôn Ngữ.H.1992): “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thường, dùng
trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết”. Phong
cách ngôn ngữ Tiếng Việt có thể chia thành hai loại hình: Phong cách ngôn ngữ
khẩu ngữ và Phong cách ngôn ngữ gọt giũa (Khoa học - Hành chính sự vụ -
Văn học nghệ thuật - Báo chí chính luận).
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Khẩu ngữ có cách diễn đạt riêng, lệ thuộc nhiều vào cảnh huống. Âm
điệu, những hư từ, những từ tắt, sắc thái biểu cảm…được diễn đạt tuỳ theo suy
nghĩ, đối tượng và trạng thái tâm lí, cảm xúc của người nói. Văn nói dễ hiểu,
gần gũi với đời thường, phù hợp với tính cách của người nói và trình độ của
người nghe.
Có thể phân loại việc sử dụng khẩu ngữ trên báo chí thành hai nhóm:
dùng từ và hành văn.
Thứ nhất: Trong việc sử dụng từ ngữ văn nói, trên báo chí xuất hiện
những từ thông tục và từ lóng. Ví dụ: “Bằng cấp đầy người, anh vẫn chỉ là một
nhân viên quèn” (Hà Nội Mới), “Đã qua ngày rằm mà nhiều công sở vẫn còn
vắng hoe. Điện thoại réo mệt nghỉ vẫn không có ai trả lời” (Nhà báo và công
luận); “Thực tế thì Tú chẳng có xu gỉ nào để góp vốn” (An ninh thế giới).
Trong thể loại bài phóng sự điều tra, khi xâm nhập vào thế giới “ngầm”,
các phóng viên đã lột tả tính chất vụ việc và bản chất của kẻ tội phạm, của tệ
nạn xã hội bằng chính ngôn từ, giọng điệu của chúng. “Cốp, vít” (giới quan
chức có quyền thế ), “Thật khổ, giang hồ kiếm tiền dễ như bỡn, có kẻ nào lại
không máu me cờ bạc, cá độ? Thắng đã tạo dựng được một “an toàn khu” ở
biên giới phía Bắc, thậm chí ngay trên đất Trung Quốc làm chỗ “lặn” cho
những tên lưu manh cộm cán bị “ lốc ổ” (An ninh Thế giới,10/2007). Phải nói
rằng những nhóm từ này khi góp mặt trong các bài điều tra, bình luận…đã tăng
sức biểu cảm, sức lôi cuốn công chúng. Chúng vừa đời thường, dân dã, vừa
phản ánh đúng tính chất sự việc. Công chúng đọc báo, nghe đài, xem truyền
hình khi bắt gặp những từ ngữ này có cảm giác gần gũi với thông tin phản ánh.
Sự giao lưu, tưưng tác về mặt cảm giác giữa kênh thông tin và đối tượng tiếp
nhận được tăng cường hơn. Quá trình tri nhận thông tin diễn ra gần như trong
một cuộc hội thoại đời thường.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Những lĩnh vực quan tâm của giới trẻ được sử dụng nhiều khẩu ngữ nhất.
Những trào lưu vui chơi giải trí, phong cách sống, quan niệm mới của giới trẻ
đang được dịp bùng nổ và phát tán rộng khắp. Họ ưa dùng những “từ chuyên
môn” nguyên gốc, thậm chí của nước ngoài để diễn đạt. Trong chuyện trò hàng
ngày, ta bắt gặp những từ, cụm từ tiếng Anh, Pháp, Trung…xen giữa những câu
tiếng Việt. “Check (Kiểm tra) lại thông tin” “đi interview” (đi phỏng vấn);
“gương mặt Top”; “sản phẩm “hot”, “bài hát hit”…Mạng internet cùng với
những tiện ích của nó vừa là nguồn phát sinh vừa góp phần truyền bá những
nhóm từ này: ngôn ngữ “chat” ; “blog”; “mail” như một làn sóng lan toả vô
hình và mạnh mẽ. Và hệ quả của nó là những tờ báo, những bài báo sử dụng
chính phong cách này để diễn đạt, nói sao viết vậy. Có thể kể đến một số báo
của giới trẻ ưa dùng lối viết này như: Hoa học trò, Sinh viên, Thanh Niên…Đã
qua rồi thời kì người ta khuyến khích việc dịch từ, chuyển nghĩa để thay thế các
từ ngữ nước ngoài bằng từ tiếng Việt tương đương tiện sử dụng. Đó là ngôn
ngữ nói và viết phổ thông phù hợp với quần chúng. Cho đến thời điểm hiện nay,
một bộ phận không nhỏ công chúng đã không còn khó khăn, thậm chí quen với
việc trao đổi, tiếp nhận thông tin theo cách mới – dùng từ ngữ chuyên môn và
ngoại ngữ xen kẽ với ngôn ngữ thông thường.
Thứ hai, trong lối hành văn, diễn đạt, báo chí cũng chịu ảnh hưởng của
khẩu ngữ. Phong cách văn nói hàng ngày thường diễn đạt ngẫu hứng, có hai
kiểu: một là ngắn gọn, hai là diễn giải. Ở kiểu ngắn gọn, người nói thường dùng
những câu tỉnh lược, tối giản (thậm chí không đủ các bộ phận chủ ngữ, vị ngữ
cơ bản) tuỳ theo khẩu khí cá nhân và hoàn cảnh hội thoại. Kiểu thứ hai- lối diễn
đạt dài dòng. Nếu văn nói có thể diễn đạt các câu nối tiếp, móc xích, đan cài,
hoán đổi cho nhau để diễn đạt nội dung thì người viết cũng có thể tạo một kết
cấu tương tự. Trên báo chí, người viết ít sử dụng hai kiểu diễn đạt này. Tuy
nhiên ở trong các dạng bài mang tính chất văn chương, nghệ thuật (tuỳ bút,
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phóng sự, kí sự), phóng viên vẫn dùng lối hành văn này, tuỳ theo văn cảnh, để
tạo nên những điểm đặc biệt trong cú pháp và kết cấu. Kiểu thứ ba, khẩu ngữ
thường sử dụng các thành ngữ, các lối nói dân gian mang tính chất ẩn dụ, hoán
dụ. Cách diễn đạt trong quần chúng thường thô mộc, giản đơn, dễ tiếp cận,
không giàu lớp nghĩa và bóng bẩy như trong văn học. Đây cũng là điểm dễ học
và sử dụng đối với cách viết của báo chí.
Có thể nói, xu hướng “hội thoại hoá”, sử dụng khẩu ngữ trong báo chí là
xu hướng tất yếu. Điều này xuất phát từ bản chất của mỗi phong cách và sự tác
động của yếu tố xã hội. Xét về bản chất, mỗi phong cách đều có những nét
chuyên biệt, nhưng khẩu ngữ và văn phong báo chí có nhiều điểm gần gũi hơn
cả. Văn phong báo chí thuộc loại hình phong cách ngôn ngữ gọt giũa, vừa mang
tính chuẩn mực vừa mang tính linh hoạt, biến thể. Báo chí mang cả phong cách
khoa học, hành chính và văn học, nhưng không khuôn mẫu và chuyên biệt,
đồng thời cũng không mang đậm chất nghệ thuật. Ngôn nhữ báo chí như đã
phân tích ở phần I, nó gần gũi với đời sống xã hội, mang tính chất của các vấn
đề sự kiện, thời sự. Chất liệu của báo chí thậm chí lấy trực tiếp, nguyên vẹn từ
cuộc sống, từ giao tiếp hàng ngày ( tiến hành các cuộc phỏng vấn, sử dụng tiếng
hiện trường để chuyển tải nội dung…). Tuy nhiên dấu ấn cá nhân và tính hình
tượng không cao như văn học, mặc dù văn học cũng sử dụng chất liệu của cuộc
sống.
Xét về tác động của xã hội, có thấy thể mức độ mở rộng của vốn từ vựng
trong đời sống hàng ngày rất lớn và không ngừng nghỉ. Cách đây khoảng năm
năm, người Việt Nam đã quen với từ “mở cửa” và đến nay không còn xa lạ với
từ “bùng nổ”. Bùng nổ của phong cách , bùng nổ của yếu tố cá nhân, bùng nổ
thông tin… Sự bùng nổ dẫn đến những quá trình tương tác, xâm nhập lẫn nhau
của các lĩnh vực mà ngôn ngữ chính là phương tiện truyền tải và cũng là yếu tố
chịu tác động mạnh mẽ nhất. Sự xâm nhập lẫn nhau của từ vựng khẩu ngữ và từ
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vựng sách vở là một điều tất yếu. Các từ thuộc khẩu ngữ hàng ngày của nhân
dân được sử dụng rộng rãi trên sách báo các loại, từ sách báo chính trị, khoa
học đến kinh tế, văn nghệ. Bên cạnh đó cũng diễn ra sự thâm nhập ngược lại từ
vốn từ vựng sách vở vào khẩu ngữ quần chúng. Ngôn ngữ báo chí được coi là
trung tâm của mội phong cách ngôn ngữ trong vòng xoay biến đổi đó và ngày
càng trở nên đa dạng, phong phú.
2.2. Những điểm cần khắc phục trong việc dùng khẩu ngữ trên báo chí
Bên cạnh việc thừa nhận tính tất yếu của sự xuất hiện khẩu ngữ cùng
những đóng góp tích cực của nó, chúng ta không thể không kể đến những mặt
hạn chế của việc lạm dụng phong cách này.
Các định nghĩa, khái niệm về phong cách khẩu ngữ đặc biệt nhấn mạnh
đến tính chất “ đối lập”, “ khác biệt” của lối văn nói và văn viết. Báo chí là một
trong những phong cách gọt giũa, ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của đại chúng.
Tính biến thể trong cách viết có thể rất cần thiết và là yếu tố tạo sức hấp dẫn
cho một bài báo, nhưng không thể quá lạm dụng.
Như trong phần I đã nêu về sự khác nhau giữa khái niệm cái Đúng, cái
Sai trong Chuẩn ngôn ngữ. Chỉ khi sử dụng biến thể trên nguyên tắc nhận thức
và tôn trọng những quy luật của chuẩn mực, tác giả mới có thể tạo ra những
chệch chuẩn có giá trị và được công nhận. Còn những trường hợp do không
nắm vững ngôn ngữ, bắt chước máy móc, cố ý tạo ra sự độc đáo khác biệt để
gây ấn tượng nhưng lại không đúng chuẩn được thừa nhận thì sẽ trở thành cái
sai, tạo nên sự vô duyên. Có thể nói, trường hợp sử dụng thành công khẩu ngữ
trên báo chí không phải là nhiều, ngược lại, trường hợp sử dụng sai phổ biến
hơn. Bởi lẽ, những lỗi sử dụng khẩu ngữ rất dễ bị mắc và chúng như những hạn
sạn trong bài viết gây phản cảm đối với độc giả.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không ít công chúng coi việc lạm dụng khẩu ngữ là một “ căn bệnh” của
những người viết trẻ. Trong một số trường hợp, các bậc phụ huynh không hài
lòng khi bắt gặp những từ “ khó hiểu” trong ngôn ngữ giới trẻ hiện nay : “bạn
ấy học rất “tanh tưởi”, “cô gái tóc vàng hoe” (để chỉ những cô gái không thông
minh?!), “những tình huống “củ chuối”, “buồn như con chuồn chuồn”, “ chán
như con gián”… một cách phổ biến trên báo Hoa học trò, Sinh viên…Báo chí
thời gian vừa qua cũng có phần lạm dụng các từ 8x, 9x để chỉ lứa tuổi học sinh,
sinh viên bây giờ. Khi công chúng nghe, đọc quá nhiều sẽ trở nên nhàm chán và
họ thấy ngày càng có những bất hợp lí trong việc sử dụng từ này. Thế nào là 8x,
9x? đánh giá thế nào khi lứa tuổi sinh năm 1980, 1981, 1982 có lối tư duy, nhận
thức và những đóng góp không như lứa tuổi 1988, 1989…Tương tự như vậy là
việc dùng tít bài báo, tên chương trình theo lối tư duy “tuổi teen” : Café @,
Chat với 8x, Café Tối, Trà sữa…vô tình tạo nên sự mặc định hình tượng của
tuổi trẻ ngày nay một cách phiến diện và vô lý. Trong những bài báo về âm
nhạc, người đọc thường thấy cách diễn đạt tương tự như: “ Sự kết hợp giữa Đan
Trường và Cẩm Ly mang lại may mắn cho cả đôi bên. Những bài song hát song
ca của cả hai đều để lại dấu ấn và nhanh chóng tạo thành bài hit. Xác xuất tạo
hit của cặp song ca này khá cao, gần như hát bài nào bài đó hit ngay”
(vietnamnet)…
Trong báo chí, có tình trạng nhiều người cầm bút đã lẫn lộn, không phân
biệt được lối hành văn của văn viết và và văn nói. Lỗi trong diễn đạt thường
mắc phải là viết câu không có chủ ngữ như “ Với thành tích đó, đã đưa công ty
lên hàng đầu các doanh nghiệp xuất khẩu”, “Qua kết quả thực nghiệm, đã
chứng minh sự đúng đắn của những giả thuyết ban đầu”…
Có nhiều ý kiến từ phía công chúng được đưa ra một cách thẳng thắn. Họ
cho rằng báo chí ngoài chức năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận thì
còn góp phần định hình ngôn ngữ cho độc giả. Báo chí những năm gần đây đã
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sử dụng thứ ngôn ngữ thiếu trong sáng, “chợ búa”; những câu cú què quặt một
cách tùy tiện, tràn lan. Ngôn ngữ báo chí cần phải đảm bảo tính khúc chiết,
trong sáng, mạch lạc, tiết kiệm ngôn từ mà giàu lượng thông tin.
Nhìn nhận lại vấn đề, ta thấy một phần tác động không tốt từ khẩu ngữ
tới ngôn ngữ báo chí là do ngay trong thực tế, những dạng từ ngữ mới xuất hiện
vốn đã tùy tiện và không trong sáng. Chúng xuất phát từ ý thức muốn thể hiện
cá tính của giới trẻ, sáng tạo một cách vô lối, cho đó là thời thượng, chạy theo
mốt thời đại. “Phản ứng dây chuyền” trong giới trẻ đã phát tán thứ ngôn ngữ ấy
và báo chí trong bối cảnh này khó có thể tránh được những lỗi diễn đạt nếu
người viết không tự ý thức được.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét