Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

chuỗi cung ứng của Ford

c. Những thành tựu sau chiến tranh thế giới thứ 2
Tháng 5, 1943, Edsel Ford chết, để trống chiếc ghế chủ tịch công ty. Henry Ford
tiến cử Harry Bennett, người đã hợp tác với ông từ lâu lên giữ chức này. Vợ góa
của Edsel là Eleanor, người thừa kế cổ phần của Edsel, muốn con mình là Henry
Ford II được nắm vị trí đó. Vấn đề được giải quyết sau một thời gian khi chính
Henry, lúc ấy đã 79 tuổi, phải đích thân giữ chức đó. Henry Ford II ra khỏi Hải
quân và trở thành phó chủ tịch chấp hành, trong khi Harry Bennett có một ghế
trong hội đồng và chịu trách nhiệm về nhân sự, các quan hệ lao động và quan hệ
đối ngoại.
Công ty rơi vào thời kỳ khó khăn hai năm sau đó, thua lỗ $10 triệu một tháng.
Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã phải cấp cho Ford một khoản tiến cứu trợ
để việc sản xuất của họ có thể tiếp tục trong thời chiến. Tới năm 1945, tình trạng
suy yếu của Henry Ford đã khá rõ ràng và vợ cùng con dâu của ông buộc ông
phải từ chức để trao quyền cho cháu trai, Henry Ford II.
Henry Ford II giữ chức chủ tịch công ty từ năm 1945 tới năm 1960; Chủ tịch
hội đồng quản trị và Tổng giám đốc từ năm 1960 tới năm 1980.
Henry Ford mất năm 1947. Ông chưa bao giờ biết hết giá trị của công ty mà
ông đã sáng lập. Cuốn sách tiểu sử A&E thống kê, có gần 7 triệu người trên thế
giới đã bày tỏ lòng tiếc thương vì sự ra đi của ông.
Năm 1946 Robert McNamara gia nhập tập đoàn Ford với vai trò là giám đốc
kế hoạch và nhà phân tích tài chính. Ông nhanh chóng thăng tiến qua hàng loạt
các vị trí lãnh đạo cao cấp của công ty và rồi lên chức Chủ tịch của Ford vào
ngày 9 tháng 11 năm 1960, một ngày sau thành công của Kennedy trong cuộc
Bầu cử Tổng thống. Là nhà lãnh đạo đầu tiên không phải là người nhà Ford,
McNamara đã giành được sự tín nhiệm từ Henry Ford II. Ông đã đóng góp vào
thành công của Ford trong thời kỳ Hậu chiến tranh. 5 tuần sau khi nhậm chức
chủ tịch ở Ford, ông đã nhận lời mời của Tổng thống Kennedy tham gia nội các
của Tổng thống với vai trò là Bộ trưởng quốc phòng.
Vào những năm 1950, Ford giới thiệu mẫu xe thể thao Thunderbird năm
1955 và dòng xe Edsel năm 1958 nhưng mẫu xe này đã bị ngừng sản xuất vào
năm 1960 sau 27 tháng có mặt ở thị trường. Sau thất bại của chiếc Edsel, hãng
tiếp tục giới thiệu chiếc Ford Falco năm 1960 và chiếc Mustang năm 1964. Đến
năm 1967, công ty Ford Châu Âu được thành lập.
Lee Iacocca đã tham gia thiết kế thành công nhiều mẫu xe của Ford, tiêu biểu là
chiếc Ford Mustang. Ông trở thành chu tịch của Ford năm 1978 nhưng do mâu
thuẫn với Henry Ford II, ông bị cách chức mặc dù năm đó ông đã mang về $2.2
tỷ tiền lãi cho công ty.

Ford Taurus, một trong những mẫu xe hơi bán chạy nhất của For (chỉ sau
chiếc F-150, Model T, và Mustang).

Harold Poling giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc của Ford
từ 1990 đến 1993, sau đó Jacques Nasser thay thế trong giai đoạn 1999-2001.
Cháu trai đời thứ 3 của Henry Ford, William Clay Ford Jr , trở thành Chủ tịch
hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của Ford đến tháng 9 năm 2006 và hiện nay,
Mulally đến từ Boeing là người kế nhiệm cương vị này. Năm 2006, gia đình nhà
Ford nắm 5% cổ phiếu và điều khiển khoảng 40% số lượng bầu cử thông qua
một loại cổ phiếu độc lập.
Ford là một trong hai tập đoàn tiêu biểu trong việc quyên góp từ thiện. Gia đình
nhà Ford cũng là gia đình rất nổi tiếng ở Bang Michigan và ở Mỹ.
Quá trình phát triển

Henry Ford và chiếc Quadricycle


1896: Henry Ford sản xuất chiếc xe đầu tiên- Quadricycle - một khung xe
ngựa có 4 bánh xe đạp.
1901: Henry Ford giành thắng lợi trong cuộc đua xe đẳng cấp cao tại Gross
Point, Mi.
1903: Ford hợp tác với 11 nhà đầu tư. Chiếc Ford Model A đầu tiên được
giới thiệu - 1,708 chiếc đã được sản xuất.
1904: Henry Ford hợp tác với Harvey Firestone của công ty lốp xe Firestone.
1906: Ford trở thành nhãn mác xe bán chạy nhất nước Mỹ với 8,729 chiếc
được sản xuất
1908: Model T được giới thiệu. 15 triệu chiếc xe đã được sản xuất cho đến
năm 1927.
1911: Ford mở nhà máy đầu tiên ở ngoài khu vực Bắc Mỹ- tại Manchester,
Anh.
1913: Dây chuyền lắp ráp tự động đầu tiên được giới thiệu tại nhà máy lắp
ráp Highland Park, tăng tốc độ lắp ráp chiếc Model T nhanh hơn 8 lần.
1914: Ford tăng tiền công tối thiểu của công nhân lên $5/ngày- gấp đôi mức
lương hiện hành.
1918: Xây dựng khu liên hợp lắp ráp Rouge.
1919: Edsel Ford thay thế chức Chủ tịch công ty của cha mình, Hery Ford.
1921: Sản lượng của Ford vượt mức 1 triệu xe/ năm, gấp 10 lần so với hãng
sản xuất bán chạy thứ 2 là Chevrolet.
1922: Ford mua lại công ty ôtô Lincoln với giá 8 triệu Đôla Mỹ.
1925: Ford giới thiệu chiếc Ford Tri-Motor, chiếc máy bay dân dụng đầu
tiên.
1926: Ford Australia được thành lập ở Geelong,Victory, Australia.
1927: Chiếc Ford Model T bị ngừng sản xuất, Ford giới thiệu thế hệ xe mới,
Model A, sản xuất tại nhà máy Rouge.
1929: Ford khẳng định vị trí số 1 của mình bằng việc sản xuất trên 1.5 triệu
chiếc ôtô.
1931: Ford và Chevry lần lượt trở thành những nhà sản xuất hàng đầu của
Mỹ, trong cuộc chạy đua bán hàng suốt thời kỳ Đại suy thoái.
1932: Ford giới thiệu động cơ V8
1936: Chiếc Lincoln Zephyr được giới thiệu.
1938: Lãnh sự quán của Đức ở Cleverland đã trao tặng Henry Ford giải
thưởng Grand Cross of the German Eagle, danh hiệu cao quý nhất mà Đức quốc
xã trao tặng cho người nước ngoài.
1939: Chi nhánh Mercury được thành lập để đáp ứng phân khúc thị trường
trung bình. Chi nhánh này tồn tại đến năm 1945.
1941: Mẫu xe cao cấp Lincoln Continental được ra mắt. Ford cũng bắt đầu
sản xuất những chiếc “jeep” phục vụ cho quân đội. Thoả thuận về lao động đầu
tiên với UAW-CIO bao gồm lao động ở bắc Mỹ.
1942: Sản xuất xe dân dụng tạm ngừng, các nhà máy tập trung sản xuất máy
bay ném bom B-24 Liberator, xe tăng và các sản phẩm khác phục vụ chiến
tranh.
1943: Edsel Ford mất ở tuổi 49 do căn bệnh ung thư, Henry Ford lại giữ chức
chủ tịch.
1945: Henry Ford II lên chức chủ tịch.
1945: Lincoln và Mercury được kết hợp thành một chi nhánh.
1946: Whiz Kids, cựu sỹ quan Lực lương Không quân Quân sự Mỹ, được
thuê để khôi phục lại công ty. Sản xuất ô tô lại tiếp tục.
1947: Henry Ford mất do xuất huyết não ở tuổi 83. Henry Ford II nắm chức
Chủ tịch hội đồng quản trị.
1948: Chiếc xe tải F-1 và chiếc Lincoln Continental được giới thiệu.
1949: Ford giới thiệu tất cả các thế hệ xe thời kỳ Hậu chiến. Chiếc wagon
vừa chỏ khách vừa cho hàng “Woody” được giới thiệu.
1954: Thunderbird được ra mắt như một chiếc xe hạng sang với động cơ V8.
Ford bắt đầu thực hiện các cuộc thử nghiệm đụng độ và mở Arizona Proving
Grounds.
1956: Mẫu xe Lincoln Continental Mark II giá $10,000 được giới thiệu. Ford
tiến hành niêm yết cổ phiếu.
1957: Ford ra mắt mẫu xe Edsel vào mùa thu năm 1957 dành cho model
1958. Ford là nhãn mác bán chạy nhất với 1,68 triệu xe được sản xuất
1959: Quỹ tín dụng Ford được thành lập. Ford ngừng sản xuất mẫu xe Edsel
vào tháng 11 năm 1959.
1960: Mẫu xe Ford Galaxie và Ford Falco ra mắt.
1960: Robert Mcnamara được Henry Ford II bổ nhiệm làm Chủ tịch của
Ford.
1960: Chủ tịch Robert McNamara được Tổng thống John F.Kennedy bổ
nhiệm làm Bộ trưởng quốc phòng Mỹ.
1964: Ford Mustang và Ford GT 40 được giới thiệu.
1965: Doanh số của Ford ở thị trường Mỹ đã vượt ngưỡng 2 triệu chiếc.
1967: Công ty Ford Châu Âu được thành lập.
1968: Dòng xe Lincoln Mark Series được giới thiệu như một sản phẩm xe cá
nhân hạng sang cạnh tranh với Cadillac Eldorado.
1970: Ford mở rộng hoạt động sang khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
1973: Nhãn mác Ford Mỹ đã vượt mức kỷ lục 2,35 triệu chiếc.
1976: Dây an toàn có thể co rút dành cho xe hơi được sản xuất.
1979: Ford nắm 25% cổ phần của Mazda.
1981: Chiếc Lincoln Town Car ra mắt, được coi là mẫu xe đỉnh nhất của mọi
dòng xe. Ford Escort có mặt tại thị trường Mỹ.
1985: Ford Tarus được giới thiệu với thiết kế phi thuyền mang tính cách
mạng. Doanh thu hàng năm đạt $53 tỷ.
1987: Ford dành được thương hiệu Aston Martin Lagonda và Hertz Rent-a –
Car.
1989: Ford dành được Jaguar, và Mazda MX-5 Miata được trình làng.
1990: Ford Explorer được giới thiệu , biến SUV thành xe gia đình phổ biến.
1993: Ford giới thiệu túi khí kép như một thiết bị an toàn tiêu chuẩn.
1995: Doanh thu hàng năm của Ford đạt 137 tỷ Đôla Mỹ.
1996: Ford certifies all plants in 26 countries to ISO 14001 environmental
standards. The Jaguar XJS with optional V12 is discontinued. Ford được cấp
giấy chứng nhận tât cả các nhà máy sản xuất ở 26 nước trên thế giới đạt tiêu
chuẩn môi trường ISO 14001.
1996: Ford tăng cường đầu tư chứng khoán bằng việc tăng lượng cổ phiếu
biểu quyết ở Mazda lên 33.4%.
1997: Ford tiến hành thiết kế lại hầu hết các mẫu xe Ford, Mercury, Lincoln
và Jaguar. Cũng trong năm này Ford cho ra mắt chiếc SUV hạng sang đầu tiên.
1999: Ford mua lại nhãn mác Volvo. Bill Ford trở thành Chủ tịch hội đồng
quản trị.
1999: Thành lập đội đua xe công thức một Jaguar.
2000: Ford mua lại nhãn mác Land Rover từ BMW. Lincoln LS và Jaguar S-
Type được giới thiệu. Doanh thu hàng năm đã đạt mức 141 tỷ đôla Mỹ.
2001: Chiếc Ford Thunderbird được giới thiệu lần thứ hai.
2002: Lincoln Continental bị ngừng sản xuất sau gần 50 năm có mặt trên thị
trường, Jaguar X-Type được giới thiệu.
2003: Ford tròn 100 tuổi. Ford GT được ra mắt nhằm kỷ niệm sự kiện này.
Lincoln Navigator được thiết kế lại cùng với những mẫu Lincoln khác.
2004: Bán chiếc xe đua Jaguar Racing cho Red Bull BmbH.
2004: Chiếc Ford Escape Hybrid và chiếc SUV xăng- điện đầu tiên được giới
thiệu.
2005: Chiếc Ford Mustang phổ biến được thiết kế lại hoàn toàn dành cho
model năm 2005, vẫn giữ lại phong cách của những model những năm 1960
nhưng với một hệ truyền động mới và một khung gầm mới. Doanh thu hằng
năm đạt đỉnh $178 triệu.
2005-2006: Ford ngừng sản xuất Mercury Sable năm 2005, và Ford Taurus
năm 2006 sau 20.
2006: Ford thông báo về những những cải tổ chính, được gọi là ‘Con đường
phía trước” nhằm đưa năng suất sản xuất, và chi phí cố định phù hợp với thị
phần dự tính.
2006: Bill Ford từ chức Giám đốc điều hành và Alan Mulally sau đó được bổ
nhiệm thay thế ông.
2006: Ford mua lại nhãn mác Rover từ BMW.

Chiếc Quadricycle 1896 tại viện bảo tàng Henry Ford ở Dearborn, ML.




Ford Model A năm 1903




Nhà máy của Ford Australia đang được xây dựng tại Geelong, Victoria năm
1926


Mustang Serial #1 - Chiếc Mustang đầu tiên
Ford Việt Nam
Công ty Ford Việt Nam thuộc tập đoàn ô tô Ford được thành lập năm 1995
và khai trương nhà máy lắp ráp ở tỉnh Hải Dương (cách Hà Nội 55 km về phía
Đông) hai năm sau đó vào tháng 11/1997. Công suất của nhà máy là 14.000 xe
một năm / 2 ca sản xuất với sáu dòng sản phẩm hiện tại là Transit, Ranger,
Escape, Mondeo, Everest, Focus
Tổng vốn đầu tư của Ford Việt Nam là 102 triệu USD, trong đó Ford Motor
đóng góp 75% số vốn và Công ty Diesel Sông Công Việt Nam có 25% vốn góp.
Đây là liên doanh ô tô có vốn đầu tư lớn nhất và cũng là một trong những dự án
đầu tư lớn nhất của Mỹ tại Việt Nam. Tổng số nhân viên tại Ford Việt Nam là
hơn 580 nhân viên.
II.Tổng quan về chuỗi cung ứng của công ty Ford Motor:
Sơ lược về chuỗi cung ứng của công ty Ford Motor:
Ford Motor là công ty sản xuất ô tô đứng thứ hai trên thế giới. Hiện nay Ford có
hơn 4000 nhà cung ứng và gần 100 nhà máy lắp ráp từ Bắc Mỹ đến Châu Âu. Chuỗi
cung ứng của Ford thể hiện rõ nét nhất qua mô hình “ khu cung ứng “ (supplier park).
Cụ thể như sau:
Vào tháng 10,1996 Ford đã thành lập khu cung ứng ở Châu Âu để cung cấp các
bộ phận của xe hơi cho nhà máy lắp ráp của Ford tại Valencia, Tây Ban Nha. Sau khi
thành lập khu cung ứng này, thì chuỗi cung ứng các bộ phận của ô tô đã được ráp lại
thành cụm lớn sẽ phân phối trực tiếp tới nhà máy lắp ráp của Ford đúng lúc. Mô hình
này sau đó đã được ứng dụng thành công các nhà máy lắp ráp khác ở Châu Âu như Đức,
Bỉ.
Nguyên tắc hoạt động của chuỗi cung ứng của Ford là:
Tất cả các nhà cung ứng trong khu cung ứng đều làm theo những nguyên tắc
giống nhau. Những nhà cung ứng làm những bộ phận phức tạp, liên kết các bộ phận hay
lắp ráp thêm bo gồm vỏ bọc, ghế, cửa, những bảng điều khiển, hệ thống hãm, và những
phần chính yếu đều được làm trong khu này sau đó phân phối tới nhà máy của Ford
thông qua hệ thống xe tải của Ford.
Trong hầu hết trường hợp, những nhà cung ứng trong khu này liên kết với Ford
thông qua hai hệ thống phân phối: Một hệ thống băng tải được gắn ở trên mặt đất kết
nối với từng trạm của mỗi nhà cung ứng tại khu vực lắp ráp cuối cùng của mỗi nhà cung
ứng đó. Thứ hai là hệ thống đường hầm để phân phối trực tiếp những bộ phận tới những
nhà máy quan trọng hay những phân xưởng sản xuất những bộ phận chính yếu.
Những nhà cung ứng sẽ được kết nối với hệ thống hoạch định của Ford. Các bộ
phận được đưa đến để lắp ráp không những đúng thời gian mà còn phải theo một trình
tự. Điều này có nghĩa là mỗi sự giao hàng tới dây chuyền lắp ráp phải chính xác thời
gian và phải chính xác theo thứ tự lắp ráp trong dây chuyền sản xuất ô tô.Quá trình này
được kiểm soát thông qua hệ thống quản lý sản xuất tại trung tâm của Ford, hệ thống
này kết nối với các nhà cung ứng thông qua dữ liệu điện tử. Việc cung ứng những bộ
phận nào đã được Ford xây dựng và thông báo cho nhà cung ứng trước đó vài ngày.
Mệnh lệnh sản đã được xác định vào một ngày cho trước, lệnh này sẽ phát đi bởi máy
chủ của Ford tới nhà cung ứng trước 2 đến 3 giờ trước khi giao hàng. Trung bình mất
15 đến 20 phút để đưa những bộ phận đến dây chuyền lắp ráp.
Sản xuất “đúng lúc” và “theo trình tự” thì tránh được sự vận chuyển của hàng
trăm xe tải mỗi ngày để đưa những bộ phận từ những nhà cung ứng bên ngoài tới nhà
máy.
Cung ứng theo” trình tự” cũng là chìa khoá quan trọng giảm được sự lưu kho
những bộ phận đơn lẽ xung quanh dây chuyền sản xuất của những nhà máy lắp ráp của
Ford.Nhờ hệ thống chuyên chở đường ray ở trên mặt đất mà việc đóng gói những phần
hay những bộ phận khi đưa đến nhà máy đã cắt giảm rất nhiều. Chi phí đã giảm nhiều
trong những khu vực này như chi phí xử lý chất thải và cũng giảm bớt được sức nặng
trên môi trường.
Khái niệm khu cung ứng của Ford còn thu được lợi ích về chất lượng nữa. Các
nhà máy ở gần nhau cho phép giải quyết vấn đề phát sinh nhanh hơn. Điều này có thể
loại trừ một cách hiệu quả việc dồn đống những bộ phận bị lỗi.
Thông qua những nhà cung ứng, Ford đã giảm bớt sự phức tạp trong tổ chức sản
xuất của chính công ty, cắt giảm được một số lượng đáng kể những phần được lắp ráp
bởi công nhân của Ford.
Tóm lại, thành công của khu cung ứng là chứng minh sự giao phó và sự cộng tác
giữa nhà sản xuất và những nhà cung ứng có thể cải tiến chất lượng, lợi ích cho khác
hàng, môi trường và cắt giảm được chi phí.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét