khẳng định vị thế và chiếm lĩnh thị trường một cách đầy vững chắc và ổn
định.
2.2,Một vài kết quả đạt được:
Sau đây là một vài kết quả mà công ty đạt được trong quãng thời gian
hoạt động:
+ Số lượng lao động ban đầu của công ty lúc ban đầu chỉ vỏn vẹn 12
ngườI, đến nay đã tăng lên đến 70 người. Trong đó dược sĩ đại học 8 ngườI,
trung cấp 6 người và dược tá là 50 người.
+ Về vốn điều lệ: Trong năm ban đầu thành lập, số vốn điều lệ của công
ty mới chỉ vỏn vẹn 200 triệu đồng. Đến thời điểm hiện tại, số vốn này đã tăng
lên 5 tỷ, tức tăng 25 lần trong vòng 15 năm. Điều này chứng tỏ công ty đã
không ngừng mở rộng về quy mô và tình hình kinh doanh phát triển tốt.
+ Về doanh số thực hiện, từ 1 tỷ/ năm tại thời điểm mới đi vào hoạt động
đến nay đã là 150 tỉ đồng, tăng gấp 150 lần chỉ trong vòng 15 năm ( 1993
-2008). Số lượng khách hàng đã tăng lên vô cùng lớn. Số thuế phải nộp tăng
từ 10 đến 15 triệu đồng/tháng nay đã tăng lên 150 đến 180 triệu đồng/ năm.
+ Về chế độ đối với người lao động, doanh nghiệp thực hiện khá tốt. BH
y tế, BHXH đóng đầy đủ. Hiện tại khoảng 30 nhân viên có thẻ khám chữa
bệnh. Thực hiện đúng ngày làm 8h, có chế độ nghỉ phép. Tổ chức tham quan
du lịch cho cán bộ công nhân viên hàng năm trích từ quỹ phúc lợi thu nhập
người lao động bình quân tăng từ 300.000đ lên đến 2,2 triệu đồng/người. đời
sống của họ được cải thiện đáng kể.
5
Ta lấy ví dụ về doanh thu thực hiện trong vòng 3 năm gần đây:
Báo cáo kết quả kinh doanh trong vòng 3 năm trở lại đây
Dv:triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Doanh thu thực hiện 136.039 140.590 153.000
lãi trước thuế 219,44 225 252,8
lãi sau thuế 158 162 182
Nhìn vào những số liệu trên ta có thể thấy doanh thu thực hiện không
ngừng tăng lên. Năm sau hơn năm trước khoảng 10 tỷ đồng. lãi sau thuế các
năm năm 2005 đến 2006 tăng 4 triệu đồng, nhưng đến năm 2007 tăng lên 20
triệu so với năm 06. Nguyên do có thể trong năm này nền kinh tế nước ta tăng
trưởng cao với những sự kiện lớn như gia nhập WTO, sự bùng nổ của thị
trường chứng khoán tình hình kinh doanh như vậy là khá khả quan. Trước hết
là lãi, và lãi không ngừng tăng. Mong là công ty tiếp tục duy trì tốt trong năm
2008 này.
6
II, Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh:
1, Quy trình mua, bán hàng hoá:
*Kênh phân phối trực tiếp (từ công ty trực tiếp đến khách hàng)
Khách hàng của công ty không chỉ là những bệnh viện, những công ty
dược phẩm, những nhà thuốc, quầy thuốc ở khu vực trong nội thành Hà NộI,
nơi trụ sở công ty toạ lạc mà còn rất nhiều từ các tỉnh miền Bắc thậm chí cả
miền Trung và miền Nam. Do đó việc có một quy trình đảm bảo nhanh, gọn,
kịp thờIđồng thời đảm bảo phân phối rộng khắp là rất cần thiết. Dù khách
hàng ở xa hay gần thì quy trình mua bán hàng hoá của công ty có thể tóm gọn
qua sơ đồ sau đây:
Quy trình thực hiện việc mua bán hàng hoá (ở đây là thuốc) diễn ra khép
kín. Sau khi khách hàng ký kết hợp đồng mua bán thuốc, với những thoả
7
Khách hàng
Bộ phận kho
BP kế toán bán
hàng
Phòng kinh doanh
Giám đốc
Hàng hoá
Nhà cung cấp
thuận được 2 bên cùng chấp nhận, giám đốc hoặc phòng kinh doanh sẽ tiếp
nhận đơn đặt hàng của khách hàng. Giám đốc sẽ trao đổi mọi thông tin với
phòng kinh doanh và ngược lại nếu có bất kỳ vấn đề gì phòng kinh doanh sẽ
báo cáo lại với giám đốc. Thông tin luôn luôn diễn ra theo 2 chiều, đảm bảo
không có gì khúc mắc.Từ yêu cầu khách hàng, phòng kinh doanh sẽ trao đổi
với bộ phận kho về lượng hàng hóa tồn kho. Nếu không đủ với đơn đặt hàng,
phòng kinh doanh sẽ đặt hàng với nhà cung cấp và mua hàng nhập kho hoặc
chuyển luôn cho khách hàng. Số lượng, tên thuốc khách hàng cần sau đó sẽ đc
phòng kinh doanh chuyển xuống bộ phận kế toán bán hàng. Kế toán bán hàng
tập hợp các đơn đặt hàng do phòng kinh doanh chuyển xuống, có thắc mắc
trao đổi lại với phòng này, sau đó sẽ viết phiếu xuất kho chuyển cho kế toán
bán hàng trên máy xuất hoá đơn. Hoá đơn này được đưa xuống bộ phận kho.
Bộ phận kho xuất kho hàng hoá sau khi đã có và không vướng mắc gì về hoá
đơn. Hàng hoá được chuyển đến tay khách hàng. đối với khách hàng ở xa thì
công ty có đội xe gồm 6 chiếc xe chở hàng đưa đến tận nơi. Đến đây kết thúc
một quy trình mua,bán hàng.Việc thanh toán với khách hàng và nhà cung cấp
sẽ do thủ quỹ phụ trách.
Có thể thấy rằng quy trình này diễn ra khá hoàn hảo. Có được sự trao đổi
thông tin giữa tất cả các bộ phận có liên quan. Giám đốc điều hành và giám
sát. Việc đáp ứng yêu cầu khách hàng, phục vụ nhanh chóng, kịp thời kể cả
các khách hàng ở tỉnh xa đã khiến công ty chiếm được thiện cảm, lòng tin của
khách hàng. Chính vì vậy, tình hình kinh doanh của công ty không ngừng
phát triển. Mạng lưới phân phối ngày càng rộng. Khách hàng đến với công ty
ngày càng nhiều hơn. Tuy nhiên, có thể thấy rằng quy trình này qua nhiều
khâu trung gian, sẽ mất thời gian và chi phí nhiều hơn. Đặc biệt sẽ chậm tiến
độ nếu khách hàng ở xa cần hàng ngay. Do đó công ty cần tìm biện pháp hợp
lý điều chỉnh cho phù hợp.
8
Kênh phân phối qua hệ thống cửa hàng, quầy thuốc:
ngoài kênh phân phối trực tiếp như đã trình bày ở trên, công ty có những
cửa hàng thuốc, quầy thuốc phân phối đến người tiêu dùng. Mô hình như sau:
Công
ty
Khách hàng/người tiêu dùng
Công ty sẽ gửi thuốc cho các cửa hàng,quầy thuốc treo biển công ty. Đây
có thể gọi như là đại lý cấp 1 cho công ty. Các đại lý này sẽ được hưởng chiết
khấu, giá ưu đãi hơn. Hàng tháng sẽ khoán cho các đại lý này bán 1 lượng
hàng nhất định. Tiền bán hàng thu được sẽ nộp cho công ty theo giá như trên.
lãi các cửa hàng, quầy thuốc sẽ được hưởng. Đầy là một kênh phân phối mà
tiếp cận dễ dàng với những khách hàng nhỏ, lẻ hơn. Tuy nhiên, do qua khâu
trung gian nên giá cả có thể cao hơn và công tác kế toán phức tạp hơn.
Kết hợp cả 2 kênh phân phối trên, công ty ngày càng phát triển thị
trường của mình. Kênh này bổ trợ, bù đắp thiếu sót cho kênh kia. Nhưng
những cửa hàng thuốc này mới chỉ ở Hà Nội. Hy vọng trong tương lai sẽ phát
huy hệ thông kênh phân phối cấp 2,3 … và trên nhiều tỉnh thành trên cả nước.
Cửa hàng, quầy
thuốc
9
2, Bảng cân đối kế toán công ty 3 năm gần đây:
D/vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 05 06 Chênh
lệch 05 với
06
07 Chênh lệch
06 với 07
tài sản 20.700 28.450 7.750 28.220 (230)
I, TS lưu động
và đầu tư ngắn
hạn
17.800 24.500 6.700 23.020 (1480)
- Quỹ TM 63 155 92 1.000 845
- TGNH 1.950 1.236 (714) 2.900 1.664
-phải thu KH 3.300 2.100 (1200) 420 (1.680)
-VAT được ktrừ 68 250 182 0
- Hàng tồn kho 12.000 20.800 8.800 19.000 (1.800)
- Lưu động khác 130 0 (130) 0
II, TS dài hạn và
đầu tư dài hạn
khác
2.900 3.950 1.050 5.200 1.250
-Ng.giá TSCĐ 1.000 1.020 20 1.800 780
-Hao mòn luỹ kế (600) (630) (30) (550)
-Khoản đầu tư
tài chính khác
2.500 3.550 1.050 4.000 450
Nguồn vốn 20.700 28.450 7.750 28.220 (230)
I, Nợ phải trả 18.000 25.600 7.600 22.050 (3.550)
-Vay ngắn hạn 5.400 6.100 700 12.700 6.600
-Ptrả người bán 12.600 19.500 6.900 9.350 (10.150)
II, Vốn CSH 2.700 2.850 150 6.170 3.280
-Nguồn vốn kd 2.000 2.000 0 5.000 3.000
-lợi nhuận chưa
phân phốI
570 710 140 920 210
-Quỹ xí nghiệp 130 140 10 250 110
10
Qua bảng cân đối kế toán trong vòng 3 năm trở lại đây, ta rút ra vài nhận xét
như sau:
• Về tài sản của doanh nghiệp : Tổng tài sản tăng lên trong giai đoạn
05-06 là 7.750 triệu đồng. Nhưng đến năm 07 tổng tài sản lại giảm đi 230
triệu. Ta lần lượt xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tổng tài sản để thấy
được nguyên nhân của những sự thay đổi này:
Xét 2 năm 2005 và 2006:
- tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng lên trong năm 06 so với
năm 05 là 6.700 tr. đồng tương ứng tốc độ tăng lên là 37,64%. Quỹ tiền mặt
tăng lên 1 lượng nhỏ là 92 triệu trong khi tiền gửi ngân hàng và phải thu
khách hàng lại giảm lần lượt là 714 và 1.200 triệu đồng. Khoản phải thu giảm
đi đáng kể có thể hiểu được qua số liệu của hàng tồn kho. Hàng tồn kho tăng
lên 8.800 triệu đồng tương ứng tốc độ tăng 73,33%. Đây chính là nhân tố tác
động mạnh nhất đến sự tăng lên của tài sản lưu động. Có thể thấy rằng doanh
nghiệp mua hàng hoá có nhiều lên (qua số VAT được khấu trừ tăng lên là 182
triệu đồng) nhưng tình hình tiêu thụ không được tốt. Chính vì vậy, số tiền gửi
ngân hàng và phải thu khách hàng đều giảm đi. Nguyên nhân của vấn đề này
có thể do tác động của thị trường chứng khoán. mọi người đổ nhiều tiền hơn
vào chứng khoán. Thêm vào đó là việc tăng lên của giá thuốc mà dư luận vẫn
tiếp tục nhắc đến trong năm nay. Việc tăng giá này do nguyên liệu đầu vào
tăng lên. Thuốc của chúng ta phần lớn nhập nguyên liệu từ châu Âu. Đầu vào
tăng dẫn đến giá tăng để bù vào chi phí là điều tất yếu. Sự tăng lên này ảnh
hưởng không nhỏ đến việc kinh doanh. Các quầy thuốc khó bán hơn. Tuy
nhiên, mặt hàng thuốc có những đặc thù riêng của nó.Giá bán thuốc được
niêm yết và nhà nước hầu như không can thiệp vào giá cả mà giá do các công
ty dược phẩm quyết định. Do vậy chúng ta có thể thấy doanh thu vẫn tăng lên
11
qua bảng doanh thu phía trên.
- tài sản dài hạn và đầu tư dài hạn: Công ty dược phẩm Việt Anh là
doanh nghiệp thương mại. Do đó, tài sản cố định biến động rất ít. Sự tăng lên
của TS dài hạn và đầu tư dài hạn chủ yếu là từ khoản đầu tư tài chính dài
hạn: tăng lên 1.050 triệu đồng. Nguyên nhân cũng có thể doanh nghiệp tham
gia vào thị trường chứng khoán hoặc đầu tư liên kết với các công ty khác
trong việc phân phối các loại thuốc mới…
Về nguồn vốn của doanh nghiệp:
- Vốn CSH: Nguồn vốn dành cho kinh doanh không có gì thay đổi
trong năm 06 so với năm 05. Sự tăng lên của nguồn vốn chủ sở hữu do tác
động mạnh nhất của lợi nhuận chưa phân phối. lợi nhuận tăng lên 140 triệu
đồng. Đây là tín hiệu đáng mừng cho doanh nghiệp.
- Nợ phải trả: Nợ phải trả tăng 7.600 triệu đồng do tác động của 2 yếu
tố: vay ngắn hạn và phải trả người bán, trong đó khoản phải trả người bán tác
động chính. Doanh nghiệp mua nhiều hàng hoá hơn và chưa thanh toán cho
người bán 1 lượng lớn( hàng tồn kho tăng 8.800 triệu đồng trong khi phải trả
cho người bán 6.900 triệu đồng). Khoản phải thu, và tài khoản tương đương
tiền không đủ để thanh toán nợ phải trả. Từ đó ta thấy khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp là tương đối thấp. Tiền của doanh nghiệp phần
nhiều trong hàng tồn kho. Doanh nghiệp cần xem xét việc quảng cáo,
marketing tốt hơn để tiêu thụ được nhiều hơn, tránh tồn đọng hàng quá nhiều.
Các khoản vay ngắn hạn cũng tăng lên đáng kể: 700 triệu đồng. Cần thấy
thêm rằng số tiền vay này lớn hơn gần gấp 3 lần số vốn kinh doanh của doanh
nghiệpKhả năng tự trang trải của doanh nghiệp còn thấp, phụ thuộc nhiều
vào nguồn vay từ bên ngoài.Bên cạnh đó, ta cũng thấy được rằng uy tín của
12
doanh nghiệp là rất tốt khi vay được lượng tiền lớn. Tình hình kinh doanh
phải như thế nào mới có thể vay được như vậy? Có thể nói công ty dược Việt
Anh đã đạt được chỗ đứng nhất định trên thị trường.
Xét 2 năm 06 và 07:
- tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn:Ngắn gọn là giảm.
Ta có thể thấy xu hướng biến động ngược lại so với giai đoạn 05-06.
Hàng tồn kho và phải thu khách hàng giảm, trong khi tiền mặt và các khoản
tương đương tiền lại tăng lên.Doanh nghiệp dường như không mua thêm hàng
hoá nhập kho và tiêu thụ tăng. Nhưng khách hàng thanh toán nhanh, không
ghi nợ. Điều này là tín hiệu đáng mừng. Tiền thu từ bán hàng hoá có thể
nhanh chóng chuyển sang các trạng thái khác, mang lại nhiều lợi nhuận hơn
cho doanh nghiệp.
-tài sản cố định và đầu tư dài hạn: tăng. Chủ yếu là tăng ở tài sản cố
định. Có thể doanh nghiệp thay những tài sản cũ đã sử dụng lâu nay bằng
những tài sản mới hơn. tài sản cố định của doanh nghiệp chủ yếu là xe vận
chuyển. Việc thay đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhanh
chóng hơn, kịp thời hơn.
Về nguồn vốn: giảm
- Vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn kinh doanh tăng lên 5000 triệu đồng. Quy
mô công ty được mở rộng và việc kinh doanh phát triển tốt nên sự đầu tư lớn
hơn là tất yếu. Cũng phải kể đến sự tăng lên của lợi nhuận chưa phân phối.
Qua 3 năm nhân tố này vẫn tăng đều đặn. Doanh nghiệp nên tiếp tục phát huy.
- Nợ phải trả: Giảm do tác động lớn của nhân tố phải trả người bán.Nhân
tố này giảm đi 10.150 triệu đồng. Trong khi đó, vay ngắn hạn lại tăng lên
6.600 triệu đồng. Có thể doanh nghiệp vay ngắn hạn để thanh toán cho người
13
bán. Điều này cũng hợp lý nhưng doanh nghiệp nên xem xét tìm biện pháp tốt
hơn để cân đối giữa vay và khả năng tự trang trảI( nguồn vốn kinh doanh).
Vay vẫn lớn gấp 2 lần nguồn vốn kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ
động hơn trong việc ra quyết định đầu tư, kinh doanh. Chưa kể vay sẽ kèm
theo phải trả lãi. Và bất kỳ nhà cung cấp nào cũng sẽ muốn mua bán với
doanh nghiệp mà khả năng tự trang trải tốt, vững vàng.
Qua bảng cân đối kế toán 3 năm gần đây nhất, chúng ta có thể thấy được
phần nào sự nỗ lực phát triển của công ty dược phẩm Việt Anh. Công ty đã
trải qua 5 đợt kiểm toán và kết luận của các kiểm toán viên đều là công ty có
tình hình tài chính minh bạch và thực hiện tốt các chế độ nghĩa vụ với nhà
nước và người lao động. Tuy vẫn còn những điều cần phải thay đổI, điều
chỉnh nhưng với 1 công ty đang gần như có doanh thu cao nhất miền Bắc thì
đáng là tấm gương tiêu biểu cho các doanh nghiệp cùng ngành học tập. Mong
là công ty tiếp tục duy trì và phát huy hơn nữa những gì đã đạt được trong 3
năm vừa qua.
III, Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý:
Công ty hiện nay có tất cả khoảng 70 nhân viên. Bộ máy quản lý rất gọn
nhẹ.
Sơ đồ bộ máy quản lý công ty TNHH dược phẩm Việt Anh
14
Ban giám
đốc
Phòng Kinh doanhPhòng MarketingPhòng Kế toán
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét