Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuỳ theo từng dự án cụ thể, Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu các Bộ, ngành,
địa phương liên quan cử các cán bộ, chuyên gia tham gia giám sát, đánh giá dự án
dưới hình thức thành lập các Tổ công tác liên ngành.
• Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện giám sát, đánh giá các dự án
nhóm A do Bộ tổ chức hoặc chủ trì tổ chức thực hiện.
• Kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ hoặc với các Bộ, ngành, địa phương liên
quan (theo thẩm quyền) về các giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc
trong hoạt động đầu tư của các ngành, các địa phương hoặc đối với các dự án
nhóm A để đảm bảo tiến độ và hiệu quả đầu tư.
• Xem xét, có ý kiến hoặc giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của
Bộ khi có yêu cầu của các Bộ, ngành khác, địa phương và chủ đầu tư.
3.Phương thức thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm định và
Giám sát đầu tư
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư là đơn vị được Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân
công làm đầu mối thực hiện các nhiệm vụ về giám sát, đánh giá đầu tư của Bộ, phối
hợp với các Bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư, cung cấp thông tin, hướng dẫn
nghiệp vụ và xử lý các vấn đề về giám sát, đánh giá đầu tư. Phương thức thực hiện
giám sát, đánh giá đầu tư của Vụ như sau
1. Tổ chức theo dõi, tổng hợp, phân tích tình hình đầu tư:
• Thực hiện nhiệm vụ theo dõi, phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trên cơ sở các thông tin,
báo cáo định kỳ theo hệ thống và chế độ quy định.
• Tổ chức mạng thông tin liên thông để thu thập và cập nhật thông
tin, phối hợp theo dõi và đánh giá tình hình đầu tư
2. Kiểm tra, xem xét thường xuyên:
• Thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư bằng việc kiểm tra, xem xét
thường xuyên hoạt động đầu tư thuộc phạm vi trách nhiệm của
mình
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Yêu cầu chủ đầu tư báo cáo hoặc tiến hành giám sát tại chỗ về vấn
đề cần tìm hiểu trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm các
quy định về quản lý đầu tư, những khó khăn vướng mắc trong quá
trình thực hiện dự án hoặc có những vấn đề chưa rõ trong Báo cáo
giám sát, đánh giá đầu tư của chủ đầu tư
3. Tổ chức đánh giá hoạt động đầu tư:
• Thực hiện nhiệm vụ đánh giá tổng thể đầu tư hoặc đánh giá dự án
(đánh giá đầu tư) vào thời điểm cần thiết theo yêu cầu của cơ quan
cấp trên hoặc của người quyết định đầu tư.
• Nhiệm vụ, nội dung và thời điểm đánh giá tổng thể đầu tư hoặc
đánh giá dự án đầu tư do cơ quan cấp trên hoặc người có thẩm
quyền quyết định đầu tư xem xét quyết định.
II.Thực trạng công tác giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
A-Chế độ báo cáo và nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ
1.Nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư
1.1. Đánh giá tổng thể đầu tư
Đánh giá tổng thể đầu tư bao gồm:
a) Đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế, ngành và địa phương, vùng lãnh thổ
Vụ có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và kết quả đầu tư của
nền kinh tế, ngành, địa phương theo các chỉ tiêu phản ánh quy mô, tốc độ, cơ cấu,
tiến độ và hiệu quả đầu tư. Qua đó xác định các yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng
tới tình hình và kết quả đầu tư ; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư
trong kỳ hoặc giai đoạn kế hoạch sau ; Đánh giá tính khả thi của các quy hoạch,
kế hoạch được duyệt.
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Việc đánh giá tổng thể đầu tư toàn bộ nền kinh tế được thực hiện hàng năm, 5
năm hoặc theo yêu cầu của Chính phủ.
b) Đánh giá tổng thể về quản lý đầu tư
Đánh giá tổng thể về quản lý đầu tư nhằm đánh giá tình hình thực hiện các
quy định về quản lý đầu tư ở các Bộ, ngành và địa phương, phát hiện những
sai phạm, những vướng mắc để kịp thời chấn chỉnh hoạt động đầu tư ở các
Bộ, ngành, địa phương và xử lý kịp thời về mặt cơ chế, chính sách cho thích
hợp với tình hình thực tế
1.2.Giám sát, đánh giá dự án đầu tư
Giám sát, đánh giá dự án đầu tư theo các giai đoạn gồm
a) Giám sát chuẩn bị đầu tư:
Vụ tiến hành việc giám sát chuẩn bị đầu tư nhằm
• kiểm tra sự đảm bảo các quy định về pháp lý trong việc chuẩn bị đầu tư ; kiểm
tra nội dung quyết định đầu tư theo quy định nêu tại Điều 30 Nghị định
52/CP ; đánh giá sự phù hợp của quyết định đầu tư với quy hoạch, kế hoạch,
chương trình đầu tư của ngành ; địa phương ; thẩm quyền và trình tự ra quyết
định đầu tư đối với dự án
• Đánh giá tổng thể về tính khả thi của quyết định đầu tư theo những yếu tố chủ
yếu của dự án
• Đánh giá về năng lực của Chủ đầu tư
b) Giám sát, đánh giá quá trình thực hiện dự án đầu tư
• Theo dõi, kiểm tra thường xuyên quá trình tựhc hiện dự án
• Kiểm tra việc áp dụng và chấp hành các chính sách, chế độ quy định của Nhà
nước, của ngành và địa phương áp dụng đối với dự án
• Đánh giá năng lực của Ban quản lý dự án theo phương thức thực hiện đầu tư
đã lựa chọn
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu (khối lượng, tiến độ, chất
lượng, giải ngân) ảnh hưởng về môi trường và xã hội trong quá trình thực hiện
đầu tư.
• Trên cơ sở theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện dự án phát hiện
những vấn đề phát sinh, các sai phạm hoặc bất hợp lý, những khó khăn, vướng
mắc về cơ chế, chính sách cần giải quyết.
• Đề xuất các giải pháp, kiến nghị người có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc
cơ quan liên quan xem xét, giải quyết để đảm bảo tiến độ đầu tư.
c) Đánh giá sau thực hiện dự án đầu tư
• Đánh giá kết thúc quá trình đầu tư
Nhằm tổng hợp, đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư một cách toàn
diện từ khâu chuẩn bị đến khâu hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
• Đánh giá quá trình khai thác, vận hành dự án
Nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư, phân tích tác động đối với dự án về các mặt
chính sách, sử dụng đất đai …và đề xuất các biện pháp để đảm bảo khai thác, vận
hành dự án có hiệu quả.
2.Báo cáo về giám sát đánh giá đầu tư
2.1.Chế độ báo cáo
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư có nhiệm vụ trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư để
báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm và từng thời kỳ
kế hoạch theo yêu cầu của Chính phủ ; tổng hợp báo cáo về giám sát tổng thể đầu tư
6 tháng một lần ; báo cáo tổng hợp, giám sát, đánh giá dự án nhóm A trong phạm vi
toàn quốc một quý một lần
2.2.Thời hạn báo cáo định kỳ
• Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm trong
tháng 2 năm sau
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Báo cáo quý về giám sát đánh giá dự án đầu tư nhóm A trong tháng đầu của
quý sau.
B- Công tác tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư
tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư giai đoạn 2003-2006
1.Quy định về giám sát, đánh giá dự án đầu tư của nước ta
Công tác giám sát và đánh giá đầu tư từ lâu đã được Chính phủ coi là công việc
vô cùng quan trọng. Cùng với việc thẩm định dự án đầu tư, giám sát và đánh giá đầu
tư luôn được tiến hành thường xuyên, định kỳ đối với các dự án đầu tư, đặc biệt là
các dự án đầu tư quan trọng cấp quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia và các
dự án nhóm A. Tuy nhiên, trong một quá trình dài Chính phủ Việt Nam chưa có
những văn bản quy định cụ thể về trách nhiệm cũng như nhiệm vụ đối với các cơ
quan quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá dự án. Do vậy, tình hình trên đã
gây ra những phiền phức cũng như những hậu quả không đáng có do việc quản lý dự
án chất lượng kém như: dự án chất lượng kém, chậm tiến độ, thời gian thi công kéo
dài, các thiệt hại gây hậu quả nghiêm trọng tới tài sản xã hội chủ nghĩa không quy
được trách nhiệm …
Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ và nâng cao
chất lượng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ; cải tiến mạnh mẽ phương
thức xây dựng nhằm đảm bảo ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết thi hành
Luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội thông qua năm 2005.
Liên quan đến hoạt động đầu tư, trong năm 2006 Chính phủ đã ban hành các
Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật đầu tư năm
2005 ; Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật Đấu
thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng ; Nghị định số 101/2006/NĐ-
CP ngày 21/9/2006 Quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng
nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật
Doanh nghiệp và Luật Đầu tư ; Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 ban
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Nghị định số
112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 về sửa đổi bổ sung một số đièu của Nghị định số
16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Liên Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tài Chính đã ban hành
Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006
hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng.
Năm 2007, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ xây dựng Luật về quản
lý đầu tư các dự án sử dụng vốn Nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh (Luật
Đầu tư công) nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý đầu tư sử dụng
vốn Nhà nước. Ngoài ra, trong phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của mình, các
Bộ, ngành, địa phương qua công tác rà soát đánh giá các văn bản pháp quy, đã tiếp
tục bổ sung, hoàn chỉnh hoặc ban hành những văn bản pháp quy mới để tăng cường
quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả hơn. Điển hình như: Bộ Công nghiệp có Chỉ
thị số 06/CT-BCN ngày 28/03/2006 về tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây
dựng nhằm chống thất thoát, lãng phí và các tiêu cực trong thực hiện đầu tư ; Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 18/2006/TT-BNN ngày
20/3/2006 hướng dẫn một số nội dung quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quản lý ; Uỷ ban nhân dân Thành phố
Hải Phòng ban hành Chỉ thị số 21/2006/CT-UBND ngày 14/9/2006 về việc tăng
cường biện pháp chỉ đạo và xử lý các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản đối với ngân
sách cấp huyện và xã ; Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Chỉ thị số
12/2006/CT-UBND ngày 10/4/2006 yêu cầu các đơn vị kiểm tra các dự án đầu tư (sử
dụng vốn Nhà nước) để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những sai phạm, thiếu sót, lãng
phí, nhằm chấn chỉnh, khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý, xử lý
nghiêm những sai phạm theo quy định, Chỉ thị số 34/2006/CT-UBND ngày
27/10/2006 về tổ chức công tác giám sát đàu tư cộng đồng ; Ủy ban nhân dân tỉnh
Khánh Hoà ban hành Chỉ thị số 28/2006/CT-UBND ngày 29/9/2006 về việc triển
khai thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư trên địa bàn tỉnh ; Uỷ ban nhân dân
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tỉnh An Giang, Đồng Tháp và một số địa phương khác có các Quyết định quy định
trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh và tăng cường công
tác giám sát, đánh giá đầu tư.
Các Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư đã có tác dụng rõ rệt
trong việc huy động nguồn lực đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, phân cấp phát huy
tính chủ động của địa phương, từng bước đưa việc giám sát, đánh giá đầu tư qua đó
đưa quản lý đầu tư vào nề nếp, tháo gỡ nhiều khó khăn cho các đơn vị thực hiện quản
lý đầu tư.
2.Tổ chức thực hiện công tác giám sát và đánh giá dự án đầu tư giai đoạn
2003-2006
Số liệu tổng hợp giai đoạn 2003-2006 gửi tới Bộ Kế hoạch và đầu tư từ các Bộ
chủ quản, các ngành, địa phương và các Tổng Công ty đều đặn và chính xác hơn qua
các năm. Số đơn vị nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư có số liệu cụ thể
ngày càng tăng. Điều này chứng tỏ các đơn vị ngày càng chú trọng hơn, nghiêm túc
hơn trong công tác giám sát và đánh giá đầu tư.
2.1.Báo cáo giám sát, đánh giá chung các dự án đầu tư từ các đơn vị
Theo báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư từ các cơ quan, đơn vị gửi về
Bộ kế hoạch và đầu tư, tổng số các đơn vị gửi về qua các năm có tăng lên. Năm
2003, số đơn vị gửi báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư mới chỉ là 55 đơn vị
(thấp nhất giai đoạn (2003-2006). Đến năm 2004, con số này tăng lên 95 đơn vị (cao
nhất trong giai đoạn 4 năm 2003-2006) và trong 2 năm 2005-2006, số đơn vị gửi báo
cáo về dao động từ 93(2005) xuống 90(2006). Như vậy, số đơn vị gửi báo cáo tăng
lên mạnh nhất giai đoạn 2003-2004 từ 55 đơn vị lên đột biến 95 đơn vị (tăng 72,7%).
*Nguyên nhân: giải thích cho việc tăng đột biến là do:
+Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 03/2003/TT-BKH ngày 19 tháng
5 năm 2003 hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư cho các đơn vị quản lý Nhà
nước về đầu tư cũng như các chủ đầu tư có dự án đầu tư đang triển khai.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+Quốc hội đã ra Nghị quyết và Thủ tướng có Chỉ thị quy định về công tác giám sát
đánh giá đầu tư. Do vậy, quy định trách nhiệm và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý
và chủ đầu tư tăng lên, bắt buộc những đơn vị này phải có trách nhiệm báo cáo tình
hình thực hiện dự án đầu tư lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
+Ban hành Thông tư trên cùng với việc phân cấp ngày càng mạnh mẽ cho các địa
phương.
Do vậy, công tác giám sát đánh giá dự án ngày càng được cải thiện. Giai đoạn
2004-2006, các đơn vị gửi báo cáo đều đặn hơn và không năm nào số đơn vị gửi báo
cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư dưới con số 90 đơn vị. Điều này cho thấy, các
văn bản pháp luật của Chính phủ có tính khả thi cao, các đơn vị ngày càng tuân thủ
nhiệm vụ quản lý đầu tư của mình.
Bảng 1: Tổng hợp đơn vị nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư
Năm
Số đơn vị nộp báo cáo giám
sát đánh giá tổngthể đầu tư
2003 2004 2005 2006
55 95 93 90
% 43% 69.90% 68.90% 68.70%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư-Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tuy nhiên, tính đến năm 2006 số đơn vị gửi báo cáo vẫn chỉ dao động dưới
mức 70%, chưa năm nào vượt qua mức này (năm cao nhất là 2004 đạt 69,9%). Đây là
mức vẫn còn thấp so với yêu cầu. Tỷ lệ nộp báo cáo thấp này gây cản trở tới việc
tổng hợp thông tin, số liệu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, qua đó giúp Thủ tướng
thấy rõ được tình hình thực hiện quản lý đầu tư để có các biện pháp chấn chỉnh kịp
thời. Như vậy, tình hình chấp hành chế độ báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương và
các Tổng Công ty mặc dù có sự cố gắng và cải thiện nhiều qua từng năm nhưng nhìn
chung vẫn chưa nghiêm túc, thiếu sự cố gắng.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.Tình hình tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư giai
đoạn 2003-2006
2.2.1.Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư chung của cả nước
giai đoạn 2003-2006
Giai đoạn 2003-2006, công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư của cả nước có
những điểm chính sau:
+Năm 2003, số dự án thực hiện đầu tư của cả nước thấp nhất, đạt 5432 dự án. Năm
2004 tăng 278% lên 20515 dự án. Các năm tiếp theo số dự án tiếp tục tăng với tốc độ
năm 2005 là 19% và năm 2006 là 12%. Các dự án thực hiện đầu tư đều tăng trong
từng năm cho thấy tình hình đầu tư của nước ta có sự phát triển, đặc biệt phát triển
mạnh mẽ từ năm 2004 trở đi. Như vậy, xét chung cho cả dự án đầu tư trong nước lẫn
dự án đầu tư từ nước ngoài, các nhà đầu tư đã ngày một tin tưởng vào chính sách ưu
đãi đầu tư của Việt Nam nên ngày càng thực hiện nhiều dự án đầu tư hơn. Qua đó
cho thấy chính sách đầu tư cũng như môi trường đầu tư của Việt Nam đã có sự cải
thiện đáng kể (từ năm 2004 trở đi), có tiềm năng thu hút đầu tư mạnh mẽ.
+Số dự án đầu tư kết thúc đưa vào hoạt động trong năm 2005 chiếm tỷ lệ cao nhất
trong tổng số dự án thực hiện đầu tư với tỷ lệ 40,76%. Các năm còn lại đều dao động
quanh mức trên dưới 36%. Tỷ lệ này còn quá thấp, chưa vượt qua mức 50% cho thấy
công tác giải ngân còn chậm. Đây cũng là vấn đề tồn tại của thực trạng đầu tư nước
ta trong nhiều năm liền. Việc giải ngân chậm làm cho dự án đầu tư đưa vào hoạt
động bị trì hoãn, một mặt không tạo thêm tài sản cho nền kinh tế quốc dân, mặt khác
dự án lâu ngày không được sử dụng hoạt động sẽ bị hao mòn vô ích (không phải hao
mòn do sử dụng trong hoạt động sản xuất), hư hỏng gỉ sét trong khi vẫn phải mất
diện tích lớn cho những công trình này khiến nhiều dự án khác không có đất để triển
khai, làm giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư nước ta. Giải ngân chậm cũng
là nguyên nhân làm Việt Nam trong nhiều năm liền không được nhà đầu tư nước
ngoài tin tưởng đầu tư.
+Tỷ lệ số dự án được giám sát đánh giá tăng trong giai đoạn 2003-2004, 2005-2006
và giảm giai đoạn 2004-2005. Năm 2004 tỷ lệ số dự án này cao nhất (60,53%) là năm
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công tác giám sát, đánh giá dự án thực hiện tốt nhất trong cả nước. Năm 2005, việc
thực hiện nhiệm vụ này giảm sút mạnh, chỉ còn 45,78%. Năm này công tác thực hiện
kém nghiêm túc nhất trong toàn giai đoạn 2003-2006. Sang năm 2006, công tác này
được chấn chỉnh, do đó số dự án được giám sát, đánh giá đã tăng lên.
+Số dự án vi phạm đầu tư tăng lên với tốc độ rất nhanh, cùng với sự tăng lên của số
dự án thực hiện đầu tư. Năm 2003 mới chỉ có 1,4% số dự án thực hiện đầu tư vi
phạm thủ tục đầu tư. Các năm sau, số dự án vi phạm tăng cả về tuyệt đối lẫn tương
đối. Từ năm 2005, tốc độ tăng số dự án vi phạm thủ tục đầu tư có chiều hướng giảm
đi mặc dù vẫn tăng do có sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ trong công tác
giám sát và đánh giá dự án đầu tư. Trong số các nguyên nhân gây ra vi phạm thủ tục
đầu tư, các nguyên nhân như không phù hợp với quy hoạch được duyệt, không đúng
thẩm quyền và ký hợp đồng không đúng quy định trong năm 2003 không có hiện
tượng này xảy ra, tuy nhiên sang các năm sau đều phát sinh. Nguyên nhân chậm tiến
độ vẫn là nguyên nhân cơ bản chính. Tỷ lệ chậm tiến độ chỉ giảm giai đoạn
2003-2004 (về mặt tương đối) mặc dù vẫn tăng (về mặt tuyệt đối).Các năm khác tỷ lệ
này đều tăng (cả về tuyệt đối lẫn tương đối)
+Dự án phải điều chỉnh trong cả nước có xu hướng tăng về số lượng, trong đó điều
chỉnh về vốn đầu tư tăng mạnh nhất. Đáng chú ý và đáng mừng là số dự án hoạt động
không hiệu quả chiếm tỷ lệ rất ít (trên tổng số các dự án thực hiện đầu tư).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét