Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại BIDV Hà Nội

Việt Nam, ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.
Bên đợc bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân trong nớc và nớc ngoài bao gồm
các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam nh doanh
nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, doanh
nghiệp t nhân, hộ kinh doanh cá thể; các tổ chức tín dụng đợc thành lập và hoạt
động theo Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều
kiện quy định tại Điều 94 của Bộ Luật Dân sự; Các tổ chức kinh tế nớc ngoài
tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu t
tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu t tại Việt Nam. Ngân
hàng sẽ không đợc bảo lãnh đối với những ngời nh sau: Thành viên Hội đồng
quản trị, ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của các tổ chức tín
dụng; Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định bảo lãnh; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản
trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám
đốc);
Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc có quyền thụ
hởng các cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng.
Cam kết bảo lãnh là cam kết đơn phơng bằng văn bản của tổ chức tín dụng
hoặc văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng đợc bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ taì chính thay cho
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng với khách
hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
1.1.1.3. Sự ra đời và phát triển của Bảo lãnh ngân hàng
Sự ra đời và phát triển của bảo lãnh ngân hàng là một yêu cầu tất yếu khách
quan của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp

-5-
cần có sự bảo lãnh của ngân hàng để thực hiện một hợp đồng kinh tế hoặc một
nghĩa vụ kinh tế nào đó.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ thể thờng xuyên phải tham
gia vào các quan hệ kinh tế mà các quan hệ này đợc xác lập dựa trên các hợp
đồng kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, do nguyên nhân
khách quan hay chủ quan, các chủ thể không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã
ký kết trong hợp đồng.
Các vi phạm này có thể phát sinh một cách chủ quan khi một bên đối tác
không thiện ý, cố tình vi phạm các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng nhằm
trục lợi riêng cho bản thân mình và gây ra những thiệt hại không lờng trớc đợc
cho phía bên kia.
Hợp đồng kinh tế bị vi phạm có thể do các yếu tố khách quan tác động tới
các bên tham gia, dẫn đến những hậu quả không lờng trớc đợc khiến bên kia
không thể có khả năng thực hiện đúng những nghĩa vụ của mình mặc dù họ
mong muốn thực hiện đúng nghĩa vụ đã ký kết. Những yếu tố khách quan đó có
thể là biến động về kinh tế, xã hội hay thiên tai.
Đứng trớc thực tế này, ngời ta đã sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau nhằm
tránh và hạn chế những thiệt hại có thể xẩy ra. Nh quy định các điều khoản pháp
lý giải quyết tranh chấp, sử dụng tài sản cầm cố, thế chấp để bồi thờng, hoặc
nhờ một bên thứ ba có uy tín, có chuyên môn và đặc biệt là có khả năng tài
chính đứng ra bảo đảm đền bù cho các thiệt hại xảy ra. Sự đền bù có thể dới
hình thức bảo hiểm, bảo lãnh hoặc cung cấp một phơng tiện thanh toán thuận
tiện và đảm bảo an toàn (trong thơng mại).
Bảo lãnh có thể do một cá nhân hay tổ chức có uy tín và khả năng tài chính
đứng ra cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình nếu bên đợc bảo lãnh vi phạm
hợp đồng và đợc các bên tham gia giao dịch đồng ý. Nếu một bên đối tác không
đồng ý thì sẽ phải tìm ngời bảo lãnh khác hoặc một ngời bảo lãnh có uy tín hơn
để bảo lãnh cho cá nhân, tổ chức trên (bảo lãnh đối ứng). Hợp đồng bảo lãnh có
thể là một phần trực thuộc hợp đồng giao dịch và do đó có tên gọi là bảo lãnh

-6-
kèm theo hay trách nhiệm bảo lãnh của bên thứ ba, nó có tính phụ thuộc vào hợp
đồng gốc.
Trong nền kinh tế thị trờng ngày càng phát triển, độ phức tạp của các giao
dịch ngày càng cao, đặc biệt là với những giao dịch kinh tế có quy mô lớn, phạm
vi rộng và giao dịch lớn thì ngời đứng ra bảo lãnh phải có độ uy tín nhất định, có
chuyên môn cao về những lĩnh vực đợc đề cập trong hợp đồng. Đồng thời, ngời
đứng ra bảo lãnh cũng phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh để tạo lòng tin đối với
các bên. Nhng tất cả những điều đó thờng vợt quá khả năng của một cá nhân cụ
thể. Chỉ có các định chế tài chính lớn nh các công ty bảo hiểm, công ty tài
chính, các Ngân hàng mới có đủ khả năng thực hiện. Các NHTM với thế mạnh
về tài chính, nghiệp vụ và uy tín đã tạo lập một công cụ mới, tạo ra sự đảm bảo
cho các bên. Công cụ này đợc gọi là bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng đợc bắt đầu sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 70. Với sự
giầu có nhanh chóng do bán dầu lửa, các quốc gia vùng Trung đông đã ký kết
những hợp đồng có giá trị giao dịch rất lớn với những tập đoàn Phơng tây nhằm
thực hiện những dự án trong các lĩnh vực: Xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp,
an ninh quốc phòng nh xây dựng đờng xá, sân bay hải cảng, nhà máy điện,
mạng lới thông tin. Do giá trị hợp đồng lớn nên để tạo lòng tin cho đối tác, các
bên cần phải có một sự đảm bảo nhất định nh tài sản, uy tín của bên thứ ba và
dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đã xuất hiện, đáp ứng nhu cầu cho các bên, đặc biệt
là bảo lãnh thanh toán ngay khi có nhu cầu đầu tiên.
Ngày nay, dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng đã đợc phát triển và ngày càng
mở rộng với tổng giá trị bảo lãnh tăng lên một cách đáng kể. Có thể khẳng định
một điều chắc chắn rằng, những hoạt động kinh tế lớn trên thế giới hiện nay
không thể nào không có một dạng nào đó của bảo lãnh đi kèm. Bảo lãnh ngân
hàng cũng đợc sử dụng ngày càng nhiều hơn khi các hợp đồng kinh tế phát sinh
trong phạm vi một quốc gia. Sự mở rộng bắt nguồn từ một thực tế rằng bảo lãnh
ngân hàng có thể đợc sử dụng để hỗ trợ cho bất kỳ một hoạt động kinh tế nào từ
hợp đồng phi tài chính nh hợp đồng mua bán, cho thuê và hợp đồng xây dựng
cho đến các hợp đồng tài chính nh các khoản tín dụng, cho vay theo món hay

-7-
thấu chi, tham gia liên doanh, phát hành trái phiếu, tái bảo hiểm hay các cam kết
tài chính khác.
Với sự ra đời tất yếu khách quan, xuất phát từ những nhu cầu trong thực tế,
tại Việt Nam, từ năm 1994, các NHTM bắt đầu áp dụng nghiệp vụ bảo lãnh nh
là một sản phẩm dịch vụ và cho đến nay dịch vụ này ngày càng phát triẻn cả về
loại hình, doanh số và chất lợng hoạt động.
1.1.2. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng
1.1.2.1. Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phơng
Để tiến hành đợc một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, thông thờng không chỉ
có ngân hàng và ngời đợc bảo lãnh tham gia mà còn có cả ngời nhận bảo lãnh.
Giữa các chủ thể này tồn tại những mối quan hệ đan xen nhau đợc thể hiện qua
các hợp đồng kinh tế. Do vậy, ta có thể hiểu rằng bảo lãnh ngân hàng không chỉ
là mối quan hệ song phơng mà là mối quan hệ đa phơng.
- Mối quan hệ giữa bên đợc bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thông qua hợp
đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng thi công xây dựng. Đây chính là hợp đồng
gốc tạo nên các hợp đồng khác.
- Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên nhận bảo lãnh thông qua
cam kết bảo lãnh dới hình thức th bảo lãnh, th L/C trả chậm hay các hình thức
khác. Giữa các hợp đồng này có sự khác biệt nhau song giữa chúng luôn có sự
liên kết chặt chẽ với nhau từng đôi một. Trong một số trờng hợp, hoạt động bảo
lãnh ngân hàng còn phức tạp hơn với sự tham gia của một số bên trung gian nh
ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng hay ngân hàng hớng dẫn trong loại hình
bảo lãnh gián tiếp.
1.1.2.2. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập
Mặc dù ngân hàng sẽ bồi thờng cho ngời thụ hởng những thiệt hại gây ra do
không thực hiện đúng nh trong hợp đồng gốc với ngời đợc bảo lãnh, song việc
thanh toán một bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản và điều kiện quy định
trong cam kết bảo lãnh. Tức là, bên nhận bảo lãnh chỉ đợc quyền đòi tiền bảo
lãnh đối với ngân hàng nếu những điều kiện ghi trong cam kết bảo lãnh xảy ra

-8-
và Ngân hàng cũng không thể viện ra các điều khoản trong hợp đồng gốc để từ
chối thực hiện nghĩa vụ của mình.
Tính độc lập còn đợc thể hiện ở chỗ ngân hàng có quyền truy đòi khoản tiền
bảo lãnh đã trả thay cho khách hàng ngay sau khi ngân hàng thực hiện yêu cầu
thanh toán từ bên nhận bảo lãnh mà không hề bị ảnh hởng bởi các điều khoản
của hợp đồng gốc.
1.1.2.3. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng
Khi ngân hàng phát hành một cam kết bảo lãnh thì ngân hàng cha thực sự
phải bỏ ra số tiền bảo lãnh, ngân hàng chỉ tiến hành thu phí bảo lãnh do bên đợc
bảo lãnh đóng. Bảng cân đối tài sản cha hề bị thay đổi. Do vậy, nghiệp vụ bảo
lãnh đợc coi là một hoạt động ngoại bảng. Bảng cân đối tài sản chỉ thay đổi khi
ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh, khi đó ngân
hàng sẽ phải chuyển một phần nguồn vốn dùng để cho vay sang hay phải huy
động từ các nguồn khác nh bán chứng khoán hay đi vay trên thị trờng mở. Nếu
bên đợc bảo lãnh cha hoàn trả ngay số tiền ngân hàng trả thay thì sẽ phải tiến
hành nhận nợ. Hay nói cách khác là ngân hàng cấp một khoản tín dụng cho bên
đợc bảo lãnh.
1.1.3. Vai trò và chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.1. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.1.1. Bảo lãnh đợc dùng nh công cụ bảo đảm
Mục đích quan trọng của hoạt động bảo lãnh ngân hàng đó chính là cung
cấp cho ngời nhận bảo lãnh một khoản bồi hoàn tài chính trong trờng hợp bên đ-
ợc bảo lãnh vi phạm điều khoản đợc ghi nhận trong cam kết bảo lãnh. Đó là một
hình thức bảo đảm cho ngời nhận bảo lãnh và thờng do bên nhận bảo lãnh yêu
cầu bên đợc bảo lãnh phải đề nghị ngân hàng bảo lãnh. Trong thực tế, ngời nhận
bảo lãnh không mong muốn nhận đợc tiền bảo lãnh. Họ mong muốn ngời đợc
bảo lãnh thực hiện đúng nghĩa vụ. Họ chỉ coi bảo lãnh ngân hàng nh một công
cụ để bảo đảm an toàn cho mình khi có biến cố vi phạm hợp đồng của ngời đợc
bảo lãnh. Và bản thân ngời đợc bảo lãnh cũng không muốn chuyện đó xảy ra vì
nhiều khi thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng tác động rất lớn đến hoạt

-9-
động sản xuất kinh doanh của họ. Tóm lại, bảo lãnh ngân hàng đợc dùng nh một
công cụ bảo đảm hữu hiệu hơn rất nhiều so với các hình thức bảo đảm khác.
1.1.3.1.2. Bảo lãnh đợc dùng nh công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng
Sau khi ngân hàng phát hành cam kết bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh,
nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng, chỉ cần bên đợc bảo lãnh vi phạm một
điều khoản nào đó trong hợp đồng thì bên nhận bảo lãnh có quyền truy đòi số
tiền bảo lãnh. Số tiền này ngân hàng sẽ cho vào khoản tín dụng bắt buộc và chắc
chắn rằng bên đợc bảo lãnh đã gây ấn tợng không tốt với ngân hàng. Điều này
sẽ ảnh hởng rất lớn tới việc xin vay, xin bảo lãnh sau này. Nhiều khi thiệt hại do
thực hiện không đúng hợp đồng có thể lớn hơn rất nhiều so với khoản đền bù do
vậy có thể nói bảo lãnh ngân hàng đã tạo áp lực đốc thúc bên đợc bảo lãnh phải
hoàn thành nghĩa vụ của mình đúng nh đã cam kết.
1.1.3.1.3. Bảo lãnh đợc dùng nh công cụ tài trợ
Trong hợp đồng thầu hoặc hợp đồng mua bán có giá trị lớn, thời gian thực
hiện kéo dài, nhu cầu tài trợ cho dự án là rất cần thiết. Các nhà đầu t hoặc ngời
bán sẽ gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính và chịu nhiều rủi ro nếu nh phải
hoàn tất các hạng mục hoặc toàn bộ hợp đồng mới đợc thanh toán. Do vậy, để
công trình tiến hành thuận lợi, chủ thầu hoặc ngời mua thờng tạm ứng trớc cho
từng công đoạn với điều kiện nhà thầu có một bảo lãnh do một ngân hàng có uy
tín đứng ra cam kết sẽ hoàn trả lại số tiền ứng trớc đó. Vì thế ngân hàng đợc coi
nh là một công cụ tài trợ.
Chức năng tài trợ cũng đợc thể hiện rõ trong việc ngân hàng cấp các khoản
bảo lãnh để cho các doanh nghiệp vay vốn, mua thiết bị trả chậm.
1.1.3.1.4. Bảo lãnh đợc dùng nh một công cụ đánh giá
Bảo lãnh ngân hàng giúp bên nhận bảo lãnh có những đánh giá nhất định về
năng lực tài chính và hoạt động của bên đối tác thông qua việc ngân hàng có
chấp thuận hay không chấp thuận bảo lãnh. Bởi vì ngân hàng là một định chế tài
chính có chuyên môn cao, có khả năng phân tích đánh giá đợc tình trạng khách
hàng của mình. Do vậy, việc ngân hàng không sẵn sàng chấp thuận bảo lãnh cho

-10-
đối tác chứng tỏ rằng họ có điều gì đó không ổn về mặt tài chính hoặc năng lực
sản xuất kinh doanh.
Trên đây là những chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Nó
có tác động to lớn đến tất cả các chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh trên cả ph-
ơng diện nghĩa vụ và quyền lợi.
1.1.3.2. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.2.1. Vai trò đối với nền kinh tế
Với những chức năng của mình, bảo lãnh ngân hàng đợc coi là một công cụ
quan trọng đợc sử dụng ngày càng rộng rãi để trợ giúp cho các hoạt động kinh
tế. Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế để phát triển
kinh tế đất nớc.
Bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ đầu t thực hiện vay vốn trong
nớc và nớc ngoài, đáp ứng nhu cầu về vốn, phục vụ cho đầu t phát triển. Đối với
một doanh nghiệp không phải là khách hàng truyền thống, thì việc xin vay vốn
đặc biệt là với số vốn xin vay lớn, rất ít khi đợc ngân hàng hay một tổ chức nào
đó đồng ý cho vay. Do họ cha chắc chắn đợc rằng liệu doanh nghiệp có khả
năng trả đợc nợ hay không. Trong khi việc dùng tài sản cầm cố, thế chấp để xin
vay không phải là lúc nào cũng dễ dàng đối với các doanh nghiệp. Do vậy, dịch
vụ bảo lãnh ngân hàng ra đời đã đảm bảo việc hoàn trả vốn vay còn bên có nhu
cầu vay vốn sẽ có nhiều cơ hội có đợc nguồn vốn phù hợp nhất với nhu cầu của
mình vì bên cho vay thấy khả năng xảy ra rủi ro tín dụng là rất ít và họ sẵn lòng
cung cấp tín dụng hơn. Trong trờng hợp này, bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò là
phơng tiện bảo đảm cho món vay có hiệu quả hơn nhiều so với hình thức cầm cố
hay thế chấp. Khi đó nhờ có các khoản vốn vay mà doanh nghiệp có thể đầu t
đổi mới thiết bị, xây dựng các dự án đầu t có tính khả thi và đem lại hiệu quả
kinh tế cao, tạo ra công ăn việc làm góp phần ổn định xã hội và đem lại phồn
vinh cho nền kinh tế đất nớc.
Riêng đối với hình thức bảo lãnh dự thầu đã góp phần giúp các nhà thầu
tham gia đấu thầu các dự án quan trọng mà nếu trúng thầu thì sẽ đem lại cho
doanh nghiệp cũng nh xã hội rất nhiều lợi ích không chỉ về mặt kinh tế mà còn

-11-
về cả mặt xã hội. Còn bảo lãnh thực hiện hợp đồng đảm bảo tính đúng đắn
khách quan và công bằng cho tất cả các doanh nghiệp tham gia đấu thầu, tránh
đợc những gian lận trong quá trình đấu thầu gây thiệt hại cho chủ đầu t.
1.1.4.2. Vai trò đối với ngân hàng
Các NHTM hiện nay hoạt động theo hớng đa năng tổng hợp, không ngừng
tạo lập và phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng nhằm đa dạng hoá hoạt
động, nâng cao thu nhập. Hoạt động tín dụng thờng gắn liền với rủi ro rất cao do
ngân hàng phải xuất vốn ra để cho vay, trong khi đó thì nghiệp vụ bảo lãnh chủ
yếu là dùng uy tín của mình để khách hàng thực hiện một hoạt động nào đó, ví
dụ đi vay vốn ngân hàng khác nên ngày nay, tất cả các ngân hàng đều hớng vào
việc tăng doanh thu từ các dịch vụ trong đó có dịch vụ bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng góp phần tăng cờng mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân
hàng và khách hàng truyền thống đồng thời giúp ngân hàng tìm kiếm thêm
những khách hàng mới. Thông qua việc cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho các
khách hàng, ngân hàng sẽ có điều kiện cung cấp cho doanh nghiệp thêm nhiều
dịch vụ ngân hàng đồng bộ phù hợp (nh dịch vụ thanh toán trong nớc và thanh
toán quốc tế ) nhờ đó tạo lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng, mở rộng thị
trờng, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng sẽ có những mối quan hệ với
nhiều doanh nghiệp cũng nh các ngân hàng trong và ngoài nớc, do vậy bảo lãnh
ngân hàng giúp nâng cao vị thế của ngân hàng, nhất là trong các mối quan hệ
đối ngoại, tăng cờng quan hệ đại lý giữa các ngân hàng (thông qua các hoạt
động bảo lãnh vay vốn nớc ngoaì, bảo lãnh đối ứng )
1.1.4.3. Vai trò đối với khách hàng
Bảo lãnh ngân hàng giúp khách hàng giảm thiểu đợc rủi ro, đảm bảo lợi ích
kinh tế chống lại những thiệt hại do việc vi phạm hợp đồng gây ra; nó đáp ứng
nhu cầu về vốn, thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng phát triển xản xuất kinh doanh.
Cụ thể là:
- Với bên nhận bảo lãnh: Giúp doanh nghiệp yên tâm hơn khi ký kết và thực
hiện hợp đồng, tiết kiệm thời gian và chi phí vào việc tìm hiểu đối tác và đặc

-12-
biệt là không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Nếu có rủi ro xẩy ra, bảo lãnh ngân hàng
đảm bảo bù đắp thiệt hại nhanh nhất.
- Với bên đợc bảo lãnh: Nhờ có bảo lãnh, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp
cận với những nguồn vốn rẻ, hiệu quả ở cả trong nớc và nớc ngoài. Bảo lãnh
cũng tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có khả năng thực hiện hợp đồng
song lại cha có đủ uy tín đối với bên đối tác có thể tham gia đấu thầu những
công trình lớn. Ngoài ra, với sự kiểm tra và giám sát của ngân hàng trớc và sau
khi đồng ý bảo lãnh buộc doanh nghiệp phải quan tâm tới hơn việc nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh để không làm mất uy tín đối với ngân hàng cũng
nh với bên đối tác. Nh vậy, chính bảo lãnh ngân hàng đã thúc đẩy cho doanh
nghiệp làm ăn nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn và hoàn thành hợp đồng theo
đúng quy định. Do đó, nó giúp doanh nghiệp tăng uy tín trong quan hệ sản xuất
kinh doanh, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp trong và ngoài nớc.
Tóm lại, bảo lãnh ngân hàng giúp tháo gỡ những khó khăn của những doanh
nghiệp đang có nhu cầu vay vốn , những doanh nghiệp muốn tham gia đấu thầu
những cha có đủ uy tín. Nó giúp các chủ đầu t, những ngời bán yên tâm hơn khi
ký hợp đồng, giúp giảm thiểu rủi ro có thể xẩy ra, do vậy có thể nói rằng sự ra
đời và phát triển của bảo lãnh ngân hàng là một yêu cầu tất yếu khách quan của
các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.4. Phân loại bảo lãnh ngân hàng.
1.1.4.1. Theo phơng thức phát hành bảo lãnh
1.1.4.1.1. Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết sẽ trực
tiếp thanh toán cho ngời thụ hởng bảo lãnh nếu bên đợc bảo lãnh vi phạm hợp
đồng một hoặc một số các điều kiện ghi trong cam kết bảo lãnh.
Thông thờng có ba bên tham gia vào một nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán là
ngân hàng bảo lãnh, bên đợc bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Ngời đợc bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng phát hành một bảo lãnh với các
điều kiện và thời hạn thờng đợc quy định trớc trong hợp đồng gốc đồng thời cam
kết sẽ bồi hoàn lại cho ngân hàng phát hành nếu ngân hàng phải thực hiện nghĩa

-13-
vụ thanh toán. Sau khi xem xét, nếu chấp nhận thì ngân hàng sẽ ký phát hành
một bảo lãnh.
Sau khi bảo lãnh ngân hàng có hiệu lực, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu
ngân hàng phải thanh toán đền bù khi có sự vi phạm của bên đợc bảo lãnh. Sau
đó, nếu đúng là có sự vi phạm điều khoản trong cam kết bảo lãnh, ngân hàng
phát hành sẽ thanh toán và sẽ đòi bên đợc bảo lãnh phải hoàn trả lại số tiền mà
mình đã thanh toán.
Bảo lãnh ngân hàng sẽ hết hiệu lực khi thời hạn bảo lãnh kết thúc hoặc khi
ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Trong một số trờng hợp,
xuất hiện ngân hàng thứ hai là ngân hàng thông báo, phục vụ cho ngời nhận bảo
lãnh.
Sơ đồ 1.1:
Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp
(1) Ngời đợc bảo lãnh và ngời nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng gốc trong đó quy
định bên A phải mở một bảo lãnh.
(2) Bên đợc bảo lãnh đề nghị ngân hàng phục vụ mình phát hành một bảo lãnh
ngân hàng.
(3) Nếu chấp thuận, ngân hàng phát hành sẽ phát hành một th bảo lãnh cho ngời
thụ hởng thông qua ngân hàng thông báo hoặc thông báo trực tiếp cho bên nhận
bảo lãnh.
(4) Ngân hàng thông báo bảo lãnh sẽ kiểm tra tính trung thực và thông báo lại
cho bên nhận bảo lãnh.

-14-
NH phát hành
bảo lãnh
NH thông báo
Người được
bảo lãnh (A)
Người nhận
bảo lãnh (B)
(2)
(1)
(3)
(5)
(4)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét