December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 5
1.1.3. Dấu hiệu và một số dạng của khủng hoảng tài chính
a. Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính
- Các Ngân hàng trung ương (NHTW) không hoàn trả được các khoản tiền gửi
của người gửi tiền.
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể
hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Theo quy luật của sự phát triển, khi lên đến điểm phát triển cực đại chịu tác động mạnh
mẻ của nền kinh tế chính trị xã hội thì nền kinh tế đó sẽ chuyển sang thời kỳ đi xuống suy
thoái khủng hoảng.
b. Một số dạng khủng hoảng đặc thù
- Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis)
Rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi của các thể nhân và pháp
nhân để cho vay lại nen rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại
tiền. Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại
được dẫn đến tỷ lệ nợ quá cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi
đến hạn.
- Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis)
Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên
không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ,
thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (VD: CHDCND Triều Tiên).
- Khủng hoảng tiền tệ (Monnetary Crisis)
Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn đáp ứng nhu cầu (cả
thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ đề duy trì tỷ
gia hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng.
- Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market)
Với tư cách là đỉnh cao của kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán rất nhạy cảm và
phức tạp nên cũng rất dễ đổ vỡ. Khủng hoảng thị trường chứng khoán xảy ra khi giá
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 6
chứng khoán biến động mạnh (tuột dốc/ leo thang quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát và do
hiệu ứng “ bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “ bán đổ bán tháo” hoặc thị trường bị đông
cứng vì không có giao dịch tạo ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng khoán) vào/ra thị
trường chứng khoán.
- Khủng hoảng cán cân thanh toán/ cán cân vãng lai/cán cân vốn.
Cán cân thanh toán/ cán cân vãng lai/cán cân vốn(còn được gọi là tài khoản) là cấu thành
quan trọng nhất của tài khoản quốc gia. Khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt
quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân vãng lai
thường xảy ra khi cán cân thương mại (nhập khẩu-xuất khẩu) bị thâm hụt và khủng hoảng
cán cân thanh toán khi tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn luồng ngoại tệ vào.
- Khủng hoảng khả năng/tính thanh khoản (Crisis of Liquidity)
Nếu các loại khủng hoảng tài chính ở trên liên quan tới cả 3 mặt số lượng, thời gian và
chủng loại của tiền, thì khủng hoảng tính thanh khoản là sự mất cân đối chủ yếu liên quan
tới thời hạn và chủng loại của giống tiền và một số loại tài sản đặc thù.
- Khủng hoảng ngân sách (Budget Crisis)
Ngân sách nhà nước thâm hụt nặng và kéo dài trong khi các nguồn bù đắp thâm hụt (in
tiền, vay nợ trong và ngoài nước) bị hạn chế hay/và không thể bị lạm dụng hơn nữa nếu
muốn tránh hậu quả tai hại hơn như vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát.
1.1.4. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Có thể kể khái quát 1 số nguyên nhân sau:
- Giá hàng hóa leo thang: Khi giá hàng hóa leo thang một cách chóng mặt, đặc
biệt là giá vàng và giá dầu sẽ khiến cho khủng hoảng tài chính dễ dàng xảy ra.
- Các ngân hàng trên thế giới đồng loạt thua lỗ: Các ngân hàng và các định chế
tài chính có thể thua lỗ hàng tỉ đôla Mỹ từ cuộc khủng hoảng tín dụng do khủng
hoảng nợ phế chuẩn cho vay cầm cố. Do đó các ngân hàng sẽ thực hiện các
chính sách thắt chặt việc cho vay.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 7
- Thị trường tín dụng bị đóng băng: Các khoản vay thế chấp đã giảm hẳn trong
năm 2008, trong đó khoản vay thế chấp thương mại hoàn toàn bị biến mất trên
biểu đồ.
- Thị trường địa ốc sụp đổ: Thị trường nhà ở của Mỹ phát triển thành bong bóng
từ năm 2001, người Mỹ đồng loạt đi vay tiền mua nhà ở cho dù năm 2004 –
2005 lãi suất các khoản vay đã được đẩy lên cao, khi tình hình kinh tế khó khăn
thì giá nhà hạ xuống mạnh, từ cuối năm 2008 bong bóng nhà ở bắt đầu xẹp hơi,
khiến nền kinh tế chao đảo.
Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là các vấn đề liên
quan đến thị trường nhà ở địa ốc, thêm vào đó, tình trạng hoản loạn trên thị trường tài
chính thế giới cũng là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu giảm mạnh và thị
trường tín dụng bị thu hẹp. Nói cách khác có thể thấy cuộc khủng hoản tài chính toàn cầu
hiện nay là do tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP vượt quá giá trị có thể đảm bảo
một sự phát triển ổn định trong tương lai.
1.1.5. Phương thức chung giải quyết một cuộc khủng hoảng tài chính.
Trước hết, chúng ta phải giải toả được những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng
hai chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị
trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình. Để thị trường
yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt.
Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh
khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ, điều tiết lượng thanh khoản đó. Khi đó,
công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp hữu hiệu giúp NHTW cho vay là nghiệp vụ thị trường
mở với các giao dịch mua bán lại tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành. Ngoài công
cụ chính sách tiền tệ gián tiếp là cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp
với lãi suất phạt.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 8
NHTW ở tình thế rất khó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuối
cùng thì việc bảo vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúc nào
đó thì đồng tiền sẽ giảm giá.
Giải quyết khủng hoảng thanh toán để hạn chế thiệt hại bằng cách: loại bỏ những điều
không chắc chắn của nhà đầu tư về tính trong sạch của các thể chế cá nhân. Thêm vào đó,
buộc các thể chế này phải xử lý những vấn đề về tài sản của mình như định giá thấp… và
bán cho cơ quan cơ cấu lại nợ của Chính phủ. Điều này làm tăng tính lỏng và giảm bớt
khó khăn cho người cho vay – ngân hàng. Tuy nhiên, để giải quyết khủng hoảng tài chính
triệt để thì cần phải ngăn chặn nó bằng cơ chế giám sát, thanh tra và các công cụ, kỹ thuật
thích hợp.
1.2. Lý thuyết về Chính sách kích cầu
1.2.1. Khái niệm
Chính sách kích cầu là một loạt các biện pháp kinh tế nhằm duy trì và gia tăng
tổng cầu của một nước thông qua sự can thiệp của Nhà nước.
1.2.2. Nguồn gốc và cơ sở của chính sách kích cầu
Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học nổi tiếng
người Anh John Maynard Keynes (1883-1946). Trong lý thuyết của mình, Keynes rất coi
trọng tổng cầu của nền kinh tế. Theo ông, nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ
bản: Tổng cung, tức toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường và tổng cầu, tức toàn thể số
hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm
trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung giữ vai trò thụ
động, nó chịu sự tác động của tổng cầu. Tổng cẩu phụ thuộc vào cac yếu tố: mức chi tiêu
cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu
ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước ( xuất khẩu ròng).
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 9
Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường không
theo kịp so với tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư, gây
ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế. Để giải quyết tình trạng này phải tăng
tổng cầu. Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư. Do đó sẽ gia tăng việc làm
và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được gia tăng.
Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh
tế thông qua chính sách kich cầu của Chính phủ. Ông cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng
và thất nghiệp cần có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng
việc làm và thu nhập. Sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ như chương trình
đầu tư Nhà nước; Chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ; Mở rộng việc làm
bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành thuộc lĩnh vực quân sự; Khuyến
khích tiêu dùng cá nhân
Như vậy, có thể nói, chính sách kích cầu bắt nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả
thuyết quan trọng của học thuyết Keynes.
- Giả thuyết thứ nhất:
Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất bị dư thừa. Biểu hiện của
tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sử dụng hết công suất: thất
nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và hàng
hóa ế thừa.
AD
Mức
giá
Sản lượng
LAS
AS
Y*
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 10
Hiện tượng dư cung này khiến cho các nhà sản xuất giảm giá để hy vọng bán được hàng
hóa. Điều này làm cho giá cả có khuynh hướng giảm trên tất cả các thị trường. Lúc này
những người tiêu dùng không còn nhu cầu sử dụng thêm vì họ đã thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng của họ nên dù có giảm giá hàng hóa cũng không khuyến khích người mua, và cầu
càng ở dưới xa cung thực tế.
- Giả thuyết thứ hai:
Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình.
Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình và khu vực kinh tế tư nhân)
thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn để dành (khuynh hướng tiết kiệm biên
lớn hơn 0). Trong điều kiện bình thường, khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực
doanh nghiệp để đầu tư (tạo nên thành phần của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái,
doanh nghiệp không muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhận.
Như vậy, qua giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suy thoái vì tạm
thời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực. Vì thế để thoát
khỏi suy thoái thì cần có một lượng cầu đủ lớn.
Xuất phát từ giả thuyết thứ hai, Keynes cho rằng chỉ có chính phủ mới dám chi tiêu mạnh
tay khi nền kinh tế đang suy thoái.
Mức
giá
Sản lượng
AD
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 11
Trên cơ sở hai giả thuyết này, Keynes đề xuất tư tưởng kích cầu theo nguyên lý sau: Dịch
chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực,
đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua.
Ra đời trong giai đoạn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, học thuyết kinh
tế của Keynes đã chiếm một vị trí quan trọng trong kinh tế học hiện đại và có ảnh hưởng
sâu rộng trong chính sách kinh tề ở nhiều quốc gia trên thế giới cho đến hiện nay.
1.2.3. Mục đích của chính sách kích cầu
Mục tiêu của gói kích cầu là tại thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất hiện tại
của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá cao gây lãng
phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội do thất nghiệp tăng cao gây ra.
Nếu không nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy suy
giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế
và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp
tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục
như vậy. Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì việc làm.
Sản lượng
Giá cả
AD
Y*
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 12
1.2.4. Những nguyên tắc cơ bản để thực hiện chính sách kích cầu
Theo lý luận của nhà kinh tế học Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu
trưởng trường đại học Harvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama), một gói
kích cầu có hiệu quả phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí.
- Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì những biện
pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh
tế.
- Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:
Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:
Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thông
qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng.
Mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác
động lan tỏa.
Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có mức tiêu dùng
cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thường tiêu dùng hàng nội địa. Do vậy, nếu
kích cầu đúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công
bằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tế thường gặp.
- Nguyên tắc số 3 – Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cải thiện.
Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:
Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu
Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong
dài hạn.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 13
1.2.5. Các biện pháp của Chính phủ để thực hiện chính sách kích cầu
Ngày nay, chính sách kích cầu ở các quốc gia thường được thực hiện thông qua
các biện pháp chủ yếu sau:
a. Chính sách tài khóa
Để duy trì tổng cầu, Nhà nước phải sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư của tư
nhân và Nhà nước thông qua tăng chi tiêu của Chính phủ, các đơn đặt hàng của Nhà
nước Đầu tư tăng sẽ làm tăng tổng cầu, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế.Tuy nhiên,
điều cần phải lưu ý là hiệu quả trong việc chi tiêu của Chính phủ.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần cải thiện hệ thống thuế khóa theo hướng khuyến khích
tiêu dùng của cá nhân. Để tăng thu nhập được quyền sử dụng của các tầng lớp dân cư thì
phải giảm các khoản thuế thu nhập và các khoản đóng góp khác. Đồng thời phải giảm các
khoản thuế gián thu nhằm giảm giá bán của hàng hóa, phù hợp với sức mua của người
dân. Các biện pháp này nếu được áp dụng đúng cách sẽ góp phần làm tăng khoản tiêu
dùng của cá nhân, từ đó làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, việc tăng chi tiêu của Chính phủ đồng thời giảm các khoản thuế tất yếu sẽ dẫn
đến thâm hụt ngân sách. Nhưng đây là thâm hụt chủ động của Chính phủ nhằm kích thích
tăng trưởng kinh tế để tạo nguồn thu nhập vững chắc trong tương lai.
b. Chính sách lưu thông tiền tệ, tín dụng ngân hàng
Để kích thích tổng cầu, Chính phủ nên dùng chính sách tiền tệ mở rộng nhằm giảm
lãi suất để kích thích đầu tư và tiêu dùng. Lãi suất hạ, nhà đầu tư sẽ có lợi và họ sẽ mở
rộng đầu tư, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập gia tăng. Lãi suất thấp, người tiêu
dùng cũng sẽ mở rộng tiêu dùng vì việc tiêu dùng lúc này có lợi hơn là giữ tiền ở các tài
khoản tiết kiệm. Như vậy, cần phải thực hiện các giải pháp làm tăng khối lượng tiền
trong lưu thông như: hạ lãi suất chiết khấu, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành thêm
tiền cho lưu thông để tăng thu nhập bằng tiền cho xã hội, tung thêm đồng nội tệ để mua
ngoại tệ Tất cả việc này sẽ làm lạm phát gia tăng, nhưng nó lại kích thích sản xuất tăng
trưởng, công ăn việc làm gia tăng, tiêu dùng gia tăng và nền kinh tế tăng trưởng theo.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
Nhóm Wall.E | Lớp K8T KHOA KINH TẾ-LUẬT ĐHQG TP.HCM 14
Vấn đề đật ra ở đây là xác định tỷ lệ lạm phát vừa phải, đừng để lạm phát tăng cao gây
tác động xấu đến đời sống kinh tế- xã hội.
c. Chính sách thương mại
Cải thiện cán cân thương mại theo hướng tăng xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu.
Tăng xuất khẩu có tác động tăng công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng tiêu dùng và kinh
tế nội địa sẽ tăng trưởng. Đồng thời phải điều chỉnh tỉ giá hối đoái theo hướng khuyến
khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, bên cạnh đó cũng phải khuyến khích tiêu dùng hàng
nội địa.
1.2.6. Một số hạn chế của chính sách kích cầu
Có thể nói chính sách kích cầu của Chính phủ là một biện pháp khá hữu hiệu để
đưa nền kinh tế thoát khỏi giai đoạn trì trệ, khủng hoảng. Mặc dù vậy, chính sách kích
cầu cũng có một số hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, chính sách kích cầu chỉ phát huy tác dụng khi sản lượng còn nằm dưới
mức sản lượng tiềm năng. Nếu sản lượng của nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng
thì sự gia tăng chi tiêu của các bộ phận trong nền kinh tế không hề làm tăng thêm sản
lượng mà chỉ làm tăng giá, dẫn đến lạm phát cao gây ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế.
Thứ hai, việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để kích thích kinh tế cũng có
những hạn chế như: trong thực tế rất khó để tính toán việc gia tăng chi tiêu và giảm thuế
với liều lượng bao nhiêu là thích hợp; đồng thời, độ trễ của chính sách tài khóa là khá lớn
và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chính trị cũng như cơ cấu tổ chức của bộ máy.
Thứ ba, chính sách giảm lãi suất để khuyến khích đầu tư tỏ ra không hiệu quả
trong một số trường hợp, đặc biệt là trong điều kiện tự do di chuyển tư bản trên phạm vi
toàn cầu như hiện nay. Một khi có nước nào đó giảm lãi suất thì tức thời sẽ xảy ra hiện
tượng rút vốn đầu tư ở nước đó để di chuyển vào những nước có lãi suất cao hơn, nên làm
cho đầu tư trong nước không tăng mà lại sụt giảm và ngược lại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét