Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Phân tích và đánh giá thực trạng việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động của huyện Hải Hà trong những năm qua

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
hiện số lao động sản xuất ở các ngành kinh tế của Việt Nam. Nguồn lao động bao
gồm:
- Nguồn lao động sắn có trong dân số: Đây là dân số hoạt động bao gồm
những người có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào quá trình sản xuất
xã hội. Bao gồm toàn bộ những người năm trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động, không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm.
- Nguồn lao động đang tham gia vào hoạt động kinh tế. Đó là những người
có khả năng lao đông, đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân.
Như vậy giữa nguồn lao động sắn có trong dân cư và nguồn lao động tham
gia vào hoạt động kinh tế có sự khác nhau.Sự khác nhau này là do một bộ phận
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì nhiều nguyên
nhân khác nhau chưa tham gia vào hoạt động kinh tế như: thất nghiệp, có việc
làm nhưng chưa muốn làm, còn đang đi học, có nguồn thu nhập khác không cần
đi làm…
- Nguồn lao động dự trữ: Là những người có khả năng lao động nhưng
chưa tham gia lao động. Bao gồm: người làm công việc nội trợ, người tốt nghiệp
các trường phổ thông trung học chuyên nghiệp, người đã hoàn thành nghĩa vụ
quân sự…
Cơ cấu nguồn lao động được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Dân số
Trong độ tuổi lao động Ngoài tuổi lao động
Không có khả
năng lao động
Có khả năng lao
động
Thực tế đang làm
việc
Nguồn lao động
Không có khả
năng làm việc
Đối với Việt Nam là một nước có đặc điểm dân số trẻ, tỷ lệ tăng dân số
hàng năm ở mức độ cao, nên nền sản xuất xã hội đang ở giai đoạn thấp. Mặt khác
chúng còn đang đứng trước một nền kinh tế dư thừa về lao động số người chưa có
việc làm và có việc làm nhưng không ổn định thường xuyên còn cao. Hiệu quả sử
dụng lao động kém: lãng phí nguồn lao động ở mức độ cao, năng suất lao động
thấp . Thu nhập quốc dân tính theo đầu người thuộc những nước đứng cuối cùng
trong số những nước có nền kinh tế chậm phát triển. Sự phân bổ lao động giữa
thành thị và nông thôn, trong nội bộ các vùng, các ngành chưa phù hợp, mất cân
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
đối. Các nguồn nhân lực có trình độ lành nghề, cán bộ khoa học có trình độ
chuyên môn bậc đại học và trên đại học chưa được bố trí sử dụng hợp lý. Đó
chính là vấn đề đặt ra đối với mọi cấp, mọi ngành quan tâm nghiên cứu đặc biệt là
các ngành chuyên môn về tổ chức lao động, giải quyết việc làm cho dân số nước
ta.
1.2 Khái niệm việc làm
Việc làm là một khái niệm thuộc phạm trù hoạt động của con người, mọi
hoạt động của con người đựơc biểu hiện đa dạng và sinh động qua các dạng việc
làm trong các hình thái kinh tế – xã hội: Nói đến việc làm là nói đến một nơi làm
việc, mọi đối tượng lao động , mọi công cụ lao động một quá trình đào tạo cụ
thể:. Khi đề cập đến vấn đề việc làm thì sức lao động có vai trò rất quan trọng,
nó là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất, chiếm vị trí quyết định sự phát
triển.
Mỗi hình thái xã hội, mỗi giai đoạn của sự phát triển kinh tế khái niệm việc
làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Đối với nước ta hiện nay theo Bộ
luật lao động thì khái niệm việc làm chung nhất, phù hợp nhất là: “ Mọi hoạt động
lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận
là việc làm” (tại Điều 13- Bộ luật lao động của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam)
Việc làm là trạng thái phù hợp về số lượng và chất lượng giữa tư liệu sản
xuất và sức lao động. Như chúng ta đã biết hai phạm trù “việc làm”và“ lao
động”có liên quan đến nhau và cùng phản ánh một loại lao động có ích của một
người, nhưng hai phạm trù đó lại hoàn toàn không giống nhau. Vì có việc làm thì
chắc chắn có lao động nhưng ngược lại có lao động thì chưa chắc có việc làm vì
nó phụ thuộc vào mức ổn định của công việc mà lao đông đang làm.
Trước đây người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc
doanh và được trong biên chế Nhà nước thì mới có việc làm ổn định còn làm việc
trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không có việc làm ổn định. Với
những quan điểm đó nên họ cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan xí nghiệp
này. Nhưng hiện nay quan điểm ấy không còn tồn tại nhiều trong số những người
đi tìm việc làm. Những người này sắn sàng tìm bất cứ công việc gì, ở đâu, thuộc
thành phần kinh tế nào cũng được miễn là hành động lao động của họ được Nhà
nước khuyến khích, không ngăn cấm và đem lại thu nhập cao cho họ là được.
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
1.3 Việc làm đầy đủ
Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người đang có hoạt động
nghề nghiệp , hoạt động lao động, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản
thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên việc xác nhận số
người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng
lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm. Trên thực tế
nhiều người đang có việc làm nhưng việc làm nửa ngày, việc làm có năng xuất
thấp và thu nhập cũng quá thấp. Đây chính là việc làm không hợp lý trong khái
nịêm người có việc làm và cần được bổ xung có ý nghĩa đầy đủ của nó, đó là việc
làm đầy đủ.
Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời
gian lao động, mức năng xuất và thu nhập. Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao
động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo qui định ( Việt Nam hiện nay
qui định 8h/ ngày). Mặt khác việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn
mức tiền lương tối thiểu (từ 1/10/2006 đến 31/12/2007 của khu vực nội địa ở
Nước ta mức lương tối thiểu là 450.000 đồng/ tháng).
Như vậy những người làm việc đủ thời gian qui định và thu nhập lớn hơn
tiền lương tối thiểu đó là những người có việc làm đầy đủ.
1.4 Thiếu việc làm
Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm là những việc
làm không tạo ra điều kiện cho người tiến hành nó sử dụng hết thời gian qui định,
mang lại thu nhập thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm
không đầy đủ là người thiếu việc làm.
Theo tổ chức lao động quốc tế ( viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu việc làm
được biểu hiện dưới 2 dạng: Hữu hình và vô hình.
- Thiếu việc làm vô hình là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm trí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp, điều kiện lao đông xấu,
tổ chức lao động kém cho năng suất lao động thấp và thường có mong muốn tìm
công việc khác có mức thu nhập cao hơn.
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
Thước đo của thiếu việc làm vô hình là:
Thu nhập thực tế
K
1
= x 100%
Mức lương tối thiểu hiện hành
- Thiếu việc làm hữu hình: là hiện tượng lao động làm việc với thời gian ít
hơn thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn tìm kiếm thêm
việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thước đo của thiếu việc làm hữu hình là:
Số giờ làm việc thực tế
K
2

= x 100%
Số giờ làm việc theo qui định
1.5 Thất nghiệp
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc
làm, có khả năng lao động hay nói cách khác là sẵn sàng làm việc và đang đi tìm
việc làm.
Hiện tượng thấp nghiệp được chia thành nhiều loại.
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển không ngừng của sức lao
động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống.
Thất nghiệp loại này được xếp vào loại " thất nghiệp tự nguyện" và thường rơi
vào thanh niên.
- Thất nghiệp cơ cấu: Xẩy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu việc
làm. Sự không ăn khớp giữa khối lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu
cầu của việc làm mất cân đối giữa cung và cầu lao động.
- Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và
thường là không ổn định. Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao
động cao sẽ xẩy ra thấp nghiệp chu kỳ.
Ở một số nước phát triển có chế độ trợ cấp thất nghiệp thì số người thấp
nghiệp được xác định một cách tương đối thuận lợi và chính xác vì hầu hết những
người cần việc làm đều đăng ký ở các cơ quan môi giới, giới thiệu việc làm để
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
tìm việc và hưởng bảo hiểm thấp nghiệp. Ở nước ta thị trường lao động mới hình
thành và còn kém phát triển và chưa có báo hiệu thất nghiệp, nếu chỉ căn cứ vào
số người tìm vịêc ở cơ quan môi giới để xác định số thất nghiệp thì hoàn toàn
không chính xác, bởi vì phần đông số người chưa có việc làm tự đi làm việc
không qua cơ quan môi giới.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động là một việc làm hết sức khó khăn và nó
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Việc làm là một phạm trù kinh tế tổng hợp có
liên kết các quá trình phát triển kinh tế xã hội và nhân khẩu với nhau.
Ta có thể biểu thị mối quan hệ giữa việc làm với một số nhân tố cơ bản qua
hàm số sau.
Y= ( X, Z, K N)
Trong đó: Y: Là số lượng công việc làm được tạo ra
X: Là số vồn đầu tư
Z: Là đối tượng lao động
K: Nhu cầu của thị trường về sản phâm của hãng
Ta thấy rằng khối lượng việc làm được tạo ra tỷ lệ thuận với các yếu tố
trên. Chẳng hạn như vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở
rộng qui mô sản xuất là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn. Khi vốn đầu tư tăng sẽ tạo
được nhiều chỗ làm vịêc mơi và ngược lại vốn đầu tư ít thi qui mô bị thu nhỏ lại
kéo theo sự giảm đi về số lượng việc làm được tạo ra.
Mặt khác nhu cầu của thị trường sản phẩm sản xuất ra còn ảnh hưởng
không nhỏ đến việc tạo chỗ làm mới. Nếu sản phẩm sản xuất ra đưa ra thị trường
bảo đảm cả về chất lượngvà số lượng được thị trường chấp nhận và tiêu thụ nhiều
sẽ là điều kiện tạo ra nhiều chỗ làm việc. Bởi vì sản phẩm tiêu thụ được sẽ thúc
đẩy sản xuất phát triển, các doanh nghiệp sẽ mở rộng qui mô sản xuất, đi đôi với
mở rộng sản xuất là cầu về lao động tăng lên. ngược lại khi cầu về sản phẩm hành
hoá giảm sẽ làm ngừng trệ sản xuất làm cho lao động không có việc làm dẫn đến
tình trạng thất nghiệp.
Ngoài ra còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới việc làm ở tầm vĩ mô:
Gồm các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác dụng quan trọng vì khi chính
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
sách kinh tế phù hợp sẽ tạo điều kiện khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát
triển là cho cầu về lao động tăng lên đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều chỗ làm
mới.
Dân số và lao động là hai vẫn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau, qui mô dân
số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại. Khi nguồn lao động lớn
lại là một sức ép lớn đối với công tác tạo việc làm cho người lao động. Bởi vì khi
cung về lao động lớn hơn cầu về lao động sẽ tạo ra lượng lao động dư thừa cần
giải quyết việc làm. ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động sẽ dẫn đến
tình trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế. Vì vậy tỷ lệ tăng dân
số là một nhân tố có ảnh hưởng lớn tới vấn đề lao động và tạo việc làm cho lao
động.
II/ SỰ CẦN THIẾT, Ý NGHĨA CỦA VIỆC TẠO VIỆC LÀM VÀ SỬ DỤNG HỢP
LÝ NGUỒN LAO ĐỘNG.
1. Cần thiết phải tạo việc làm trong xã hội.
Tạo việc làm trong xã hội do yêu cầu chủ quan của người lao động và yêu
cầu khách quan của xã hội.
Đối với người lao động trong quá trình phát triển con người đóng vai trò là
hai mặt, một mặt con người là người hưởng thụ, mặt khác con người cung cấp đầu
vào quan trọng cho quá trình biến đổi phát triển sản xuất. Hoạt động lao động ra
đời cùng với sự hình thành và phát triển của loài người, đó là bản năng sinh tồn.
Con người chỉ có thể tồn tại phát triển và hoàn thiện không ngừng thông qua hoạt
động lao động sản xuất. Do đó nhu cầu có việc làm là nhu cầu tất yếu khách quan
và chính đáng của con người.
Đối với xã hội thì bất cứ một quốc gia hay một địa phương nào đều có nhu
cầu sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lao động để khai thác tiềm năng, tài
nguyên thiên nhiên phát triển đất nước. Con người là trung tâm của xã hội, nguồn
lao động là nguồn lực quan trọng là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế – xã
hội.
Do đó mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả
năng của nguồn lực quan trọng này. nếu có những sai phạm thì nguồn lao động
trở thành gánh nặng, thậm trí gấy ngại tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
hội. Vì vậy một quốc gia giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động là một
thành công lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – chính trị và xã hội của mình.
2. Ý nghĩa của tạo việc làm, sử dụng hợp lý nguồn lao động
Tạo việc làm là quá trình đưa người lao động vào làm việc, là quá trình tạo
ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất công cụ và sức
lao động bao gồm điều kiện vật chất, tư liệu sản xuất công cụ và sức lao động có
khả năng lao động. Giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề bức
xúc và quan trọng nó có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với từng người lao động và
toàn xã hội hay nói cách khác tạo việc làm cho người lao động vừa có ý nghĩa
kinh tế vừa có ý nghĩa xã hội.
Về mặt kinh tế khi con người có việc làm sẽ được các nhu cầu thông qua
hoạt động lao động hay nói cách khác việc làm mang lai thu nhập cho người lao
động để thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ổn định và nâng cao đời sống của
người lao động. Việc làm hiện nay gắn chặt với thu nhập. Người lao động không
muốn làm ở những nơi có thu nhập thấp đó là một thực tế do nhu cầu đòi hỏi của
xã hội. Thực tế hiện nay nhiều người lao động được trả công rất rẻ mạt, tiền công
không đủ sống dẫn đến tâm lý không thích đi làm, tâm lý ỷ lại ngại đi xa các
thành phố thị xã. Một mặt thất nghiệp nhiều ở thành thị nhưng ở nông thôn lại
thiếu cán bộ thiếu người có trình độ chuyên môn. Bởi vậy tạo điều kiện có việc
làm cho người lao động thôi chưa đủ mà còn tạo việc làm gắn với thu nhập cao
mang lại sự ổn định cuộc sống cho người lao động.
Một mặt kinh tế khác là việc làm sẽ khai thác hết nguồn lực các tiềm năng
kinh tế, tránh láng phí nâng cao hiệu quả kinh tế của các nguồn lực tạo ra của cải
vật chất thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Về mặt xã hội việc làm có ý nghĩa rất lớn nó giúp con người nâng cao vai
trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp
trong xã hội: không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ
nạn xã hội: chộm cắp, lừa đảo, nghiện hút…giải quyết việc làm cho người lao
động nhất là thanh niên là hạn chế các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra và giải
quyết các vấn đề kinh tế xã hội đòi hỏi.
Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào vấn đề sử dụng có hiệu
quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động và nguồn vốn. Trong đó việc
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
sử dụng nguồn lao động có vai trò quan trọng và quyết định sự phát triển đó. Dân
số và lao động không những là chủ thể của quá trình sản xuất trong xã hội mà còn
là nhân tố hành đầu của lực lượng sản xuất, là nhân tố lao động qui định sự phát
triển của nền sản xuất. Như chúng ta đã biết mọi quá trình sản xuất đều phải có ba
yếu tố: đối tượng lao đông, tư liệu lao động và lao động. Trong đó lao động là yếu
tố quan trọng nhất là chiếc cầu nối tư liệu sản xuất và đối tượng lao động. Quá
trình phát triển lịch sử của loài người trên thế giới ta thấy rằng trong phát triển
kinh tế thì khu vực nào biết sử dụng tiềm năng nguồn lao động, biết phát huy
được nhân tố con người trong lĩnh vực phát triển kinh tế thì khu vực đo, nước đo
có nền kinh tế phát triển nhanh chóng mặc dù khu vực đó có nhiều điều kiện
không thuận lợi như ít tài nguyên thiên nhiên, bị chiến tranh tàn phá hay bị đe
doạ bởi thiên tai
Nếu sử dụng và phát huy tốt khả năng lao động của con người thì sẽ tạo ra
khả năng to lớn để phát triển kinh tế. Hơn nữa giải quyết tốt việc làm cho người
lao động sẽ góp phần giải quyết tốt các vấn đề mang tính xã hội như nâng cao và
cải thiện đời sống, hạn chế các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Hoàn thiện hệ
thông quản lý sẽ đưa đến một hệ thông cơ cấu lao động hợp lý có sự phối hợp hài
hoà giữa các bộ phận tổ chức, bố trí lao động hợp lý phù hợp với đặc điểm, tính
chất công việc sẽ nâng cao năng suất lao động của các cá nhân, giúp họ phát huy
hết khả năng, sự sáng tạo của mình cho quá trình sản xuất phát triển.
Đối vơi huyện Hải Hà do đặc trưng là một huyện nông nghiệp thuần tuý
nằm trong vùng kinh tế chậm phát triển nên trong thời gian qua các nguồn lực của
Huyện chưa được khai thác tốt và sử dụng lao động chưa đạt hiệu quả cao còn
nhiều bất hợp lý. Vấn đề đặt ra là phải tìm mọi biện pháp để sử dụng đầy đủ , hợp
lý, có hiệu quả nguồn nhân lực để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế của huyện
nhà.
Giải quyết việc làm cho người lao động giúp họ tham gia vào quá trình sản
xuất xã hội cũng là yêu cầu của phát triển nền sản xuất, điều kiện cơ bản cho sự
tồn tại phát triển của xã hội loài người.
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
PHẦN THỨ HAI
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN HẢI HÀ TRONG NHỮNG NĂM QUA
I/ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HẢI HÀ- QUẢNG NINH
1. Đặc điểm tự nhiên
- Hải Hà là một huyện miền núi biên giới thuộc khu vực đông Bắc tỉnh
Quảng Ninh với toàn bộ địa lý.
- Từ 21
0
12' " đến 21
0
38' 27" vĩ độ Bắc.
- Từ 107
0
30' 45" đến 107
0
51' 49" kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía đông giáp thị xã Móng Cái, phía Nam giáp
biển, phía tây giáp huyện Đầm Hà và huyện Bình Liêu.
Hải Hà cách thành phố Hạ Long 150 km và cách cửa khẩu Móng Cái 40
km theo quốc lộ 18A.
Hải Hà có tổng diện tích tự nhiên là 51.250,34 ha gồm thị trấn Quảng Hà
và 15 xã trong đó có xã đảo Cái Chiên.
Dân số Hải Hà tính đến 30/6/2005 dân số toàn huyện có 51.078 người trong đó:
Nam: 25.425 người chiếm 49,8% tổng dân số.
Nữ : 25.633 người chiếm 50,02 % tổng dân số.
Bao gồm 8 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn trong đó:
- Dân tộc kinh: 39.262 người chiếm 76,8 % tổng dân số.
- Dân tộc Dao: 8.888 người chiếm 17,4% tổng dân số.
- Dân tộc Tày : 1.909 người chiếm 3,7 % tổng dân số.
- Dân tộc Sán Dìu: 344 người chiếm 0,7 % tổng dân sô.
- Dân tộc Sán Chỉ: 102 người chiếm 0,2% tổng dân số.
- Dân tộc Hoa: 363 người chiếm 0,7% tổng dân số.
- Dân tộc Nùng: 190 người chiếm 0,4 % tổng dân số.
- Dân tộc Mường 17 người chiếm 0,1% tổng dân số.
Toàn huyện có 11.343 hộ, bình quân 4,5 người / hộ. Năm 2004 tỷ suất sinh
trong hộ là 1,63%, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,36%. Trong đó mật độ dân
số bình quân toàn huyện là 100 người/ km2 . Tuy nhiên dân số phân bổ không
đều, nơi có mất độ dân số cao là thị trấn Quảng Hà có 4.815 người/ km2, xã
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh TÕ Quèc D©n
Quảng Trung có 597 người/ km2, xã Tiến Tới có 477 người/ km2, xã Quảng
Chính 419 người/ km2, xã Quảng Đức 33 người / km2.
Tổng số lao động trong độ tuổi hiện nay có 24.505 lao động , trong đó:
- Nam có 12.864 người chiếm 52,2% tổng số lao động
- Nữ 11.461 người chiếm 47,5% tổng số lao động
Số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm 92%, còn lại là
công chức Nhà nước. Số lao động có trình độ Đại học, cao đẳng là 480 người.
Trong những năm qua huyện đã thu hút 248 dự án tạo việc làm cho hơn 2 nghìn
lao động, cơ bản giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân.
Thị trấn Quảng Hà là trung tâm kinh tế chính trị văn hoá của huyện. Có quốc lộ
18A chạy qua tạo điều kiện thuân lợi giao lưu với bên ngoài, góp phần phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn, của khẩu Bắc Phong Sinh và bờ biển dài là tiềm năng
thế mạnh để phát triển thương mại, dịch vụ và thuỷ sản.
Vị trí địa lý của huyện Hải Hà là 1 trong những thuận lợi để phát huy nội
lực, giao lưu trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển
kinh tế xã hội và phát huy triệt để khả năng tiềm tàng của huyện.
2. Các nguồn tài nguyên:
2.1 Tài nguyên đất.
Đất đai Hải Hà được chia thành hai vùng chính là vùng đồi núi và vùng
đồng bằng ven biển.
2.1.1 Vùng đồi núi: bao gồm các loại đất sau:
a. Đất nâu tím:
Nhóm đất này hình thành và phát triển trên sa phiên thạch tím hạn mịn.
Nhóm đất nay có diện tích 2167,6 ha chiếm 4,2% diện tích tự nhiên, phân bổ ở
các xã Quảng Đức, Quảng Sơn, Quảng Long, Đường Hoa, Quảng Chính, Quảng
Thịnh, Quảng Thành.
Đất có phản ứng chua, pH
KCL

ở tầng mặt là 4,4 hàm lượng chất hữu cơ ở
mặt tầng giàu và rất nghèo ở tầng dưới. Đạm tổng số tầng mặt trung bình và giảm
dần theo chiều sâu. Lân tổng số dễ tiêu nghèo. Kali tổng số nghèo nhưng Kali dễ
tiêu lại nghèo. Thành phần hữu cơ thịt nặng đất sét.
Sinh viªn: Lª Thanh B×nh Líp KT Lao §éng K36 - QN
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét