I - Đặt vấn đề
Trong lịch sử loài ngời các cuộc chiến tranh luôn luôn diễn ra trên thế giới giữa
một bên là bọn xâm lợc nhằm giành lấy đất đai mở rộng lãnh thổ để vơ vét của cải,
bóc lột sức lao động của nhân dân bản xứ với một bên là ngời dân lao động đấu
tranh nhằm giành lấy độc lập tự do và công bằng cho xã hội. Ngày nay các cuộc
chiến tranh nổ ra giữa một bên là bọn đế quốc muốn lật đổ và phá hoại thành tựu
đã đạt đợc của chủ nghĩa xã hội nhằm đánh đổ xã hội chủ nghĩa với nhân dân các
nớc xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Ban đầu các cuộc
chiến tranh xảy ra sử dụng các loại vũ khí thô sơ-vũ khí lạnh (kiếm, guơm, giáo,
mác ) đánh nhau giáp lá cà đến các cuộc chiến tranh sử dụng súng-vũ khí nóng đ-
ợc đánh dấu bằng việc phát minh ra thuốc súng của ngời Trung Quốc mà đợc các
thơng gia ảrập mang sang châu Âu và đợc phát triển và sử dụng rộng rãi đã chứng
tỏ uy lực và khả năng sát thơng to lớn của nó đã dần thay thế vũ khí lạnh. Cho đến
khi vũ khí nhiệt hạch ra đời đó là việc sử dụng vũ khí nguyên tử, hạt nhân và nhiệt
hạch ra đời bởi thành tựu của ngành vật lí hạt nhân đợc đánh dấu bằng việc Mĩ thả
2 quả bom nguyên tử đầu tiên xuống 2 thành phố sầm uất của Nhật Bản (Hirosima
và Nagaxaki ) ngay tại chỗ giết chết 300 000 ngời và biến tất cả chỉ còn là một
đống gạch vụn và không chỉ có thế hậu quả của nó còn kéo dài đến tận ngày nay.
Điều đó chứng tỏ rằng dới tác động của khoa học kĩ thuật vũ khí và trang bị cho
quân đội không ngừng phát triển và ngày càng mạnh mẽ. Đặc biệt trong tác chiến
phòng không khoa học-kỹ thuật-công nghệ cao có vai trò rất lớn. Là một bộ phận
của lực lợng quân sự lực lợng phòng không chịu nhiều ảnh hởng của khoa học kỹ
thuật công nghệ cao. Khi khoa học kỹ thuật công nghệ cao phát triển thì vai trò của
lực lợng phòng không thay đổi đáng kể. Từ chỗ chỉ xuất hiện trên chiến trờng
dùng để bảo vệ các trận địa khỏi sự tấn công của các lực lợng trên không của địch
đến nay lực lợng phòng không đã trở thành lực lợng mang tính chất quyết định cục
diện cuộc chiến và nằm tập trung tại các mục tiêu chiến lợc từ trung tâm tới tiền
tuyến. Trang bị kỹ thuật của lực lợng phòng không cũng thay đổi đáng kể từ quan
sát bằng mắt thờng tới rađa, các thiết bị quan sát hồng ngoại, lazer từ súng bộ
binh cho tới các loại tên lửa hiện đại Cơ cấu của lực lợng phòng không cũng có
nhiều thay đổi lớn từ một lực lợng bảo vệ trở thành lực lợng chiến đấu chính đóng
vai trò quyết định đến cục diện cuộc chiến. Với các phơng tiện kỹ thuật hiện đại nó
cũng đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật của các chiến sỹ phòng không cũng phải
nâng cao đáng kể .
II - Nội dung
1) Vai trò tác chiến điện tử trong tác chiến phòng không.
1.1) Khái niệm, nhiệm vụ của tác chiến điện tử:
Là một tập hợp các biện pháp nhằm phát hiện và chế áp điện tử đối với các thiết
bị và hệ thống điện tử của địch và đồng thời bảo vệ vô tuyến cho các thiết bị và hệ
thống điện tử của ta.
Tác chiến điện tử là một hình thức tác chiến dựa trên kỹ thuật điện tử. Là sự kết
hợp giữa các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật nhằm phát huy cao nhất tính năng
tác dụng của vũ khí, khí tài thực hiện thắng lợi phơng án tác chiến.
Tác chiến điện tử là một dạng quan trọng của tác chiến Phòng không. Các biện
pháp tác chiến điện tử đợc tiến hành kết hợp với việc tiêu diệt các thiết bị và hệ
thống vô tuyến điện tử của địch.
1.2) Vai trò tác chiến điện tử trong tác chiến phòng không :
1.2.1) Chế áp điện tử :
Bằng các loại nhiễu, nhiễu chế áp có năng lợng lớn hơn nhiều lần so với tín
hiệu có ích. Để chế áp có hiệu quả phải có công suất phát xạ nhiễu lớn. Muốn
phá sự làm việc của thiết bị vô tuyến điện tử bằng một loại nhiễu là không thể đợc.
Để chế áp sự làm việc của thiết bị vô tuyến điện tử cùng loại nhng sử dụng các
dạng tín hiệu và phơng pháp xử lý khác nhau thì phải sử dụng các loại nhiễu khác
nhau. Để đạt cờng độ mong muốn, tạo đợc màn nhiễu theo ý đồ chiến thuật thờng
phải sử dụng linh hoạt và kết hợp các loại nhiễu.
Gây nhiễu có thể tiến hành trong suốt quá trình chiến đấu, hay một giai đoạn
cần thiết nào đó hoặc một khoảng thời gian nào đó trớc trong và cả sau khi tấn
công. Cũng có thể chỉ gây nhiễu trên hớng tấn công chính hoặc trên một hớng phụ
hoặc đồng thời cả hai. Đôi khi ngời ta tiến hành sau một trận đánh kết thúc nhằm
nhử phơng tiện vô tuyến điện tử đối phơng hoạt động để có cơ hội xác định lại đối
phơng, tìm các điểm mới xuất hiện phục vụ cho kế hoạch tác chiến tiếp.
Tóm lại, phơng pháp gây nhiễu rất đa dạng và linh hoạt, nó phải đợc kết hợp
chặt chẽ với nghệ thuật tác chiến và ý đồ chiến thuật thì hiệu quả mới cao.
Các loại nhiễu chế áp :
Nhiễu tạp : Còn gọi là nhiễu tiếng ồn, có biên độ, tần số và pha của sóng biến
đổi hỗn loạn ngẫu nhiên. Đối với đài rađa nó biểu hiện dới dạng sóng hoá một
phần hay toàn bộ hiện sóng. Đối với máy thu thông tin nó biểu hiện dới dạng tiếng
ồn ào ri rít hỗn loạn
Nhiễu tạp rất có hiệu quả đối với rađa vì cấu trúc của nó gần giống tạp thăng
giáng nội bộ của máy thu nên thờng rất khó phát hiện và khó áp dụng các biện
pháp làm giảm ảnh hởng của nó.
Nhiễu tạp đối với rađa cũng có tác dụng chế áp nguỵ trang tín hiệu hữu ích.
Chế áp tín hiệu chủ yếu là do làm quá tải máy thu. Nguỵ trang là làm tín hiệu hữu
ích không thể phân biệt trên nền nhiễu. Trong thực tế đối với các đài rađa nhiễu tạp
là loại nhiễu rất khó khử.
Theo độ rộng phổ nhiễu, nhiễu tạp chia thành : nhiễu chặn , nhiễu ngắm và
nhiễu hỗn hợp (quét).
Nhiễu chặn - nhiễu dải rộng : đó là việc gây nhiễu ồ ạt và đồng thời trên toàn
băng sóng thậm chí trên nhiều băng tần số, có tác động đến toàn bộ dải tần của hệ
mục tiêu (so với mục tiêu thì phổ nhiễu có thể rộng gấp hàng chục thậm chí hàng
trăm lần).
u điểm của loại nhiễu này là năng lợng nhiễu rộng trên toàn băng tần có thể
gây nhiễu cho nhiều đài có tần số công tác lân cận nhau. Nhng cũng do đó mà
năng lợng đa vào mỗi kênh thu giảm xuống. Đây cũng chính là nhợc điểm của nó
và đòi hỏi công suất lớn hơn máy gây nhiễu. Điều đặc biệt của loại nhiễu này là
với công suất phát nhiễu không đổi, mật độ công suất nhiễu giảm khi mở rộng phổ
phát xạ .
Nhiễu ngắm - nhiễu dải hẹp : tạo ra trên một dải tần tơng đối hẹp , không vợt
quá hai đến ba lần dải tần của máy thu bị nhiễu tức là loại phát xạ mà tổng số năng
lợng có thể tập trung vào dải tần của máy thu.
Vì mật độ năng lợng cao, nhiễu có thể vào máy thu từ các hớng phụ của giản
đồ định hớng ăng ten thu. Muốn nhiễu có hiệu quả máy phát nhiễu phải điều chỉnh
vào đúng tần số đài chế áp. Sai số cho phép phụ thuộc độ rộng phổ của nhiễu
ngắm. Đối với một số đài rađa sai số đó không đợc vợt quá 1/2 độ rộng giải tần
máy thu. Nh vậy một máy phát nhiễu ngắm trong một thời điểm chỉ có thể phá sự
làm việc bình thờng đối với những rađa cùng tần số làm việc. Nhiễu ngắm là loại
nhiễu có hiệu quả nhất. Tuy vậy nhiễu ngắm đòi hỏi phải biết trớc chính xác tần
số máy thu đối phơng (đây là nhợc điểm mà phía chống nhiễu có thể sử dụng). Nh-
ng trong thực tế không phải bao giờ cũng làm đợc điều đó vì tần số của phơng tiện
vô tuyến điện tử hoàn toàn có thể di chuyển rất nhanh, nên trong đài gây nhiễu
ngắm phải sử dụng máy thu phức tạp và phải điều khiển theo tần số chế áp.
Nhiễu trợt nhiễu quét : mang tính chất vừa chặn vừa ngắm. Tạo ra bằng cách
điều chỉnh máy phát nhiễu dải hẹp di chuyển trên một giải tần rộng. Tức là về mặt
công suất nhiễu tập trung trên một giải tần số hẹp, nhng theo thời gian nó sẽ quét
trên một băng tần số rộng. Nhờ đó lần lợt tập trung đợc mật độ công suất khá cao
vào dải tần từng rãnh của thiết bị vô tuyến điện, nhiều rãnh hay một đài trên mạng
nhiều tần số. Nếu chọn tốc độ điều chỉnh (tần số vô tuyến điện có thể thay đổi
nhanh chóng theo định luật ngẫu nhiên khoảng 5 % của tần số trung tâm
10(150MHz và mật độ công suất nhiễu thích hợp có thể làm cho máy thu không
kịp thời hồi phục độ nhạy, trong khoảng thời gian điều chỉnh máy phát nhiễu trợt.
Nhng máy thu có mạng chống nhiễu và làm việc ở giải rộng, thì hiệu quả của loại
nhiễu này có thể kém hơn nhiễu chặn không điều chỉnh máy thu.
Nh đã nêu đây là loại nhiễu kết hợp đợc u điểm của cả hai loại nhiễu : ngắm
(tập trung năng lợng vào một giải tần số hẹp) chặn (quét trên một băng tần số
rộng). Tuy vậy, nó đòi hỏi phải thờng xuyên biết đợc tần số thiết bị cần gây nhiễu
theo thời gian thực. Bằng cách sử dụng máy phát nhiễu dải hẹp, dải rộng thuộc các
giải khác nhau và nhiễu quét, các lực lợng tấn công luôn có gắng sử dụng hiệu quả
nhất bề rộng của dải nhiễu đúng lúc và có hiệu lực trong dải thông của máy thu
mục tiêu.
Nhiễu không điều chế : thờng đợc sử dụng thời kì đầu của chiến tranh vô tuyến
điện tử để phá hoại sự làm việc của một số rađa và hệ thống đạo hàng vô tuyến.
Mức độ tác động cuả nhiễu không điều chế đối với máy thu phụ thuộc vào biên độ
của nhiễu và độ chính xác điều chỉnh tần số máy phát nhiễu, vào tần số đài bị chế
áp. Khi tần số nhiễu trùng với tần số đài chế áp và biên độ đủ lớn làm cho máy thu
dễ bị quá tải. Nhiễu không điều chế tác động lên đài rađa sẽ làm xuất hiện những
dải tối theo hớng nguồn nhiễu phát xạ. Độ rộng dải phụ thuộc vào công suất máy
phát nhiễu, độ rộng giản đồ định hớng ăngten rađa và mức cách sóng phụ của rađa
ấy. Khi tần số của nhiễu không điều chế không trùng với tần số rađa, cờng độ
nhiễu không lớn nhiễu chỉ có tác dụng làm biến dạng tín hiệu mà thôi. Nhiễu liên
tục không điều chế đợc sử dụng rộng rãi vì nó không đòi hỏi điều chỉnh chính xác
tần số máy phát nhiễu vào tần số sóng mang đài bị chế áp. Mặt khác nhờ có bộ lọc
có thể dễ dàng loại trừ tác dụng của loại nhiễu này.
Nhiễu điều chế : là điều chế dao động cao tần bằng các tín hiệu nhiễu. Sự biến
điệu của nhiễu đợc xác định bởi độ rộng của dải tần, cờng độ và thời gian giao thoa
trong máy thu mục tiêu. Sự biến điệu này có thể tạo ra các dáng điệu chuyển động
riêng và sự chuyển động của ảnh, trên màn rađa làm cho nhoè ảnh mục tiêu và mất
khả năng tập trung của trắc thủ hoặc gây nhiễu âm điệu, hỗn loạn không thể thu đ-
ợc tin thực. Nhiễu điều chế có thể là liên tục, xung.
Nhiễu địa vật : nhiễu địa vật nổi trên hiện sóng nh mục tiêu thật có biên độ lớn
nhng không di chuyển. ở vùng nhiễu đồi núi sóng về thành từng đám dày đặc. Nhất
là ở khu vực gần tâm càng ra xa nhiễu càng ít hoặc không có. Sóng về địa vật có
thể che lấp mục tiêu. Khu vực ít sóng cũng có thể làm trắc thủ nhầm lẫn khi theo
dõi bám sát mục tiêu .
Nhiễu xung : là nhiễu do địch phát ra dới dạng xung mà đã thu đợc. Nhiễu tạo
ra trên màn hiện sóng một hoặc rất nhiều tín hiệu giống nh mục tiêu thật. Nhiễu
xung không che lấp đợc mục tiêu nhng gây ra sự lẫn lộn thật giả làm tăng số lợng
khi ta xác định số lợng loại kiểu.
Diệt nguồn bức xạ :
Tiêu diệt, hoặc làm hỏng, không thể khôi phục lại đợc, các thiết bị vô tuyến
điện tử của đối phơng là thủ đoạn chống vô tuyến điện tử triệt để nhất. Để thực
hiện thủ đoạn này ngoài những vũ khí triệt phá thông thờng còn có những vũ khí
đặc hiệu chống vô tuyến điện tử nh tên lửa bám nguồn sóng, phóng xạ hạt nhân.
Tên lửa bám nguồn sóng : đó là những tên lửa có rađa thụ động, theo năng l-
ợng điện tử của mục tiêu phát ra, bám theo nó và tiêu diệt.
Phóng xạ hạt nhân : Những bức xạ phát sinh do vụ nổ hạt nhân gây ra có thể
làm cho hỏng không thể khôi phục những thiết bị vô tuyến điện tử ở cách điểm nổ
hàng chục km. Đó là những tia nơtơron cao năng lợng, khi xuyên qua vật liệu
chúng tác động nh những viên đạn cao tốc gây xộc xệch trong cấu trúc vật liệu. Tai
hại nhất là đối với các chất bán dẫn. Bên cạnh đó những tia gama và X có tác dụng
ion hoá không khí rất mạnh, biến các chất cách điện thành dẫn điện gây ra những
dòng quang điện lớn trong những linh kiện bán dẫn, có thể làm cháy mạch điện,
nhất là những vi mạch tổng hợp mỏng manh và tinh tế. Cho dù có khôi phục đợc
chăng nữa thì những h hỏng nhất thời đó của hệ thống vô tuyến điện tử cũng vẫn
là tai hại đối với những hệ vũ khí hiện đại, phức tạp. Đặc biệt vào thời điểm thực
hành tác chiến thì hết sức nguy hại.
1.2.2) Phản chế áp :
Hoạt động chống chế áp điện tử của lực lợng phòng không trong chống chiến
tranh phá hoại rất quyết liệt, căng thẳng, ác liệt, đa dạng, rất phức tạp nhng cũng
có thể quy về hai vấn đề chính : một là chống bị lừa, hai là tìm mọi biện pháp nâng
cao tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu tạp, phân biệt đợc tín hiệu trong nhiễu.
Chống chế áp điện tử trong lĩnh vực kĩ thuật :
Để chống chế áp điện tử của Mỹ, bộ đội phòng không có nhiều giải pháp
chống nhiễu, gồm cả giải pháp khai thác tính năng kĩ chiến thuật sẵn có của khí
tài, cải tiến nâng cao tính năng, độ nhạy, độ tin cậy của khí tài phòng không trong
chống nhiễu, nâng cao hiệu quả chiến đấu.
Lấy vũ khí pháo phòng không làm ví dụ : khí tài rađa phòng không đã sử dụng
trong chiến đấu gồm rađa pháo, máy chỉ huy, kính quang học. Khí tài sử dụng chế
áp điện tử là rađa pháo. Trong quá trình chiến đấu bộ đội rađa phòng không xử lý
nh sau :
Chuyển tần số làm việc : Rađa pháo phòng không có thể làm việc ở 4 tần số
khác nhau thể hiện trên trục tần số f1,2,3,4
Khi phát sóng quan sát mục tiêu, tín hiệu phản xạ, nhiễu tạp vào máy thu. Tr-
ờng hợp nhiễu ngắm phổ nhiễu hẹp (1) thì các tần số F2,3,4 không bị nhiễu. Trờng
hợp này máy phát chuyển sang các tần số 2, 3,4 sẽ tránh đợc nhiễu. Trờng hợp phổ
nhiễu rộng nó phủ lên f2,3,4. Nếu tần số làm việc ở tần số f3 có chuyển sang f2,4
vẫn bị nhiễu. Để tránh đợc nhiễu chỉ có thể chuyển về f1.
Chống chế áp trong lĩnh vực chiến thuật :
Công tác bố trí đội hình chiến đấu có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy đợc
hoả lực, tác dụng của mỗi đơn vị.Nguyên tắc chung là bố trí đội hình chiến đấu
nhằm hạn chế cờng độ nhiễu tác động vào khí tài.
Cần dự đoán hoạt động của đối phơng : Cần dự kiến sát các mục tiêu địch sẽ
đánh phá trong khu vực. Dựa vào địa hình mà dự tính các đờng bay không quân
địch sẽ sử dụng đột nhập, đờng bay chính, đờng bay phụ trên cơ sở đã dự kiến
hành lang nhiễu địch sẽ sử dụng để bố trí đội hình chiến đấu.
-Đối với các đơn vị tên lửa : thông thờng tham số đờng bay P>7km nhiễu cờng
độ nhỏ hơn, vì quan sát mục tiêu không trùng với cánh sóng chính của các máy
phát nhiễu tích cực. Trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không chống chiến
dịch tấn công đờng không, nhiều tiểu đoàn đã phát hiện đợc máy bay B 52 trên nền
nhiễu. Do đó đã bắn rơi nhiều B52.
-Đối với rađa : Khi dự tính đợc các đờng bay chính, đờng bay phụ thì bố trí lại
mạng lới rađa trong khu vực, hay một số thay đổi trên toàn mạng đảm bảo có trạm
rađa chốt, làm lực lợng nòng cốt để chống nhiễu, phát hiện mục tiêu rađa chịu
trách nhiệm đờng bay chủ yếu, đồng thời bố trí xen kẽ kết hợp khéo bỏ các loại đài
rađa có tần số làm việc khác nhau trên một khu vực hay trên toàn mạng để hỗ trợ
nhau bắt mục tiêu trong điều kiện địch gây nhiễu.
Cơ động trận địa : cơ động trận địa tơng tự nh bố trí đội hình nhằm giảm cờng
độ nhiễu của địch, tạo điều kiện đánh địch, cơ động trận địa cho các đơn vị đánh
địch đánh vòng ngoài theo yêu cầu chiến đấu, để đánh tan đội hình địch giúp cho
các đơn vị khác ở vòng trong có điều kiện tiêu diệt địch.
Tiêu diệt nguồn gây nhiễu (nguồn bức xạ) : tiêu diệt nguồn gây nhiễu là một
nội dung tác chiến điện tử. Tiêu diệt nguồn nhiễu làm giảm nhiễu. Tạo điều kiện
cho chiến đấu bắn rơi máy bay địch.
Khó khăn lớn nhất khi bắn máy bay trong nhiễu tạp là phân biệt nhiễu trong
đội hình, ngoài đội hình.
Khi trên hiện sóng có nhiễu dải nhiễu tạp, để phân biệt dải nhiễu trong và
ngoài đội hình, có nghĩa là phân biệt dải nhiễu máy bay phát nhiễu từ xa với dải
nhiễu tự bảo vệ của máy bay cờng kích hoặc máy bay B52. Trong thực tế chiến đấu
việc này thờng xuyên xảy ra, ta phải sử dụng nhiều phơng pháp để phân biệt nhiễu
ngoài đội hình với trong đội hình nh dạng nhiễu, sự biến đổi toạ độ dải nhiễu, nếu
thời tiết tốt có thể kết hợp kính quang học. Nhiễu dải từ xa và của B52 giống nhau
về độ sáng, dạng điều chế vì hai loại máy bay này cùng dùng các loại máy gây
nhiễu. Muốn phân biệt giải nhiễu từ xa và tự bảo vệ chủ yếu phải dựa vào quy luật
biến đổi tọa độ đờng bay giải nhiễu từ xa có thể thay đổi phơng vị và rất ít thay đổi
về góc tà - cự ly từ máy phát nhiễu đến ĐĐK tên lửa rađa không thay đổi do tốc độ
rộng dải nhiễu hầu nh không thay đổi. Còn dải nhiễu các máy bay tự bảo vệ có sự
biến đổi theo quy luật. Góc tà của dải nhiễu tăng dần còn góc phơng vị có thể biến
đổi hoặc không biến đổi. Giải nhiễu góc phơng vị có thể có hiện tợng tách thành
hai hoặc ba giải riêng rẽ.
1.3) Bảo vệ chế áp điện tử :
Ngoài những biện pháp gây nhiễu, nguỵ trang và nghi trang thông thờng cần
quan tâm một số phơng pháp sau :
Chống trinh sát vô tuyến điện tử.
1.3.1 Các biện pháp chiến thuật bảo vệ chống trinh sát cho hệ mặt đất :
Lập kế hoạch hợp đồng (mạng thống nhất) các sensơ (phát xạ) linh hoạt theo
mạng lới với các hệ thống vũ khí
-Quy định sử dụng máy phát
-Xác định và kiểm tra việc ứng dụng các biện pháp kĩ thuật điện tử chống điện
tử
-Thờng xuyên thay đổi tín hiệu
-Khai thác địa hình che khuất trong từng khu vực
1.3.2 Cấu trúc chống phản xạ rađa
Ngợc lại các phơng pháp làm các vật có cấu trúc phát, phản xạ sóng điện từ lớn
là việc thiết kế các cấu trúc, hình thái vật thể có diện tích phản xạ hiệu dụng bé
hoặc rất bé làm cho rađa không thể phát hiện đợc. ở đây coi nh khí tài đợc nguỵ
trang nhờ hình dạng chính bản thân. Nguyên lý này đợc dùng vào việc thiết kế, chế
tạo vật liệu và hình dạng thân máy bay, tàu thuỷ, tên lửa, vệ tinh
1.3.3 Những lớp phủ chống rađa
Một biện pháp nữa để che dấu mục tiêu đối với rađa là dùng những lớp phủ đặc
biệt có khả năng hấp thụ sóng tới , triệt tiê
xạ hàng trăm thậm chí hàng ngàn lần. Mặt khác các lớp phủ chỉ có hiệu lực với
một số sóng nhất định (một tần số nhất định) mà trong khi đó rađa hiện đại có thể
làm việc trong dải tần số rộng, nên các lớp phủ đã công bố sử dụng rất hạn chế.
Ngày nay tuy cha công bố nhng đã có những dấu hiệu cho thấy đã có những lớp
phủ đáp ứng những yêu cầu trên. Đối với máy bay, tên lửa, lớp phủ phải nhẹ và
thật bền vững để chịu đựng đợc những điều kiện bay nhanh.
1.3.4 Luồng khí ion hoá - dấu hiệu lộ máy bay
Tuy có những lớp phủ chống rađa, nhng riêng chúng thôi cũng cha bảo đảm
che dấu máy bay, và luồng khí phụt ra tạo nên những vệt ion hoá phản xạ sóng
điện từ rất tối dễ dàng quan sát trên màn rađa (nhất là với sóng cm và mm ). Hơn
nữa với những vật có tốc độ siêu âm, vết ion hoá còn hình thành cả trong trờng
hợp động cơ không làm việc. Bởi vậy, phải che dấu những điểu yếu này.
1.3.5 Giảm và chắn bức xạ nhiệt
Chắn bức xạ nhiệt là thả màn khói, che bọc bằng những vật liệu cách nhiệt,
phủ chống lớp sơn hấp thụ tia hồng ngoại. Cũng có thể dùng cành lá nguỵ trang
song phải chú ý rằng cành lá nguỵ trang xanh tơi phát xạ và phản xạ tia hồng ngoại
mạnh hơn cành lá khô héo. Và sự phát xạ khác nhau đó có thể làm lộ mục tiêu bởi
các thiết bị trinh sát hồng ngoại. Giảm bức xạ nhiệt là hạn chế phát xạ nhiệt bằng
cách tắt động cơ máy bay, tàu thuỷ, tên lửa nếu có thể tắt động cơ nhiệt trong thời
gian đối phơng tấn công, theo dõi cố gắng giảm đến mức thấp nhất nhiệt độ vận
hành của thiết bị. Cũng có thể thay đổi chất đốt có nhiệt độ thấp. Trong quá trình
thiết kế, ngời ta đã chế tạo buồng đốt thích hợp sao cho sự phát xạ nhiệt của động
cơ giảm đi.
Tóm lại, chống trinh sát là tất cả các biện pháp làm nguỵ trang, nghi trang,
đánh lừa chắn bức xạ, màn hấp thụ nhằm che dấu, đánh lạc hớng, gây sai lệch
đối với các phơng tiện trinh sát vô tuyến điện tử của đối phơng.
Nh trên đã nói, muốn gây nhiễu, đối phơng phải tiến hành trinh sát để nắm quy
luật hoạt động và các đặc trng của đối phơng cần gây nhiễu. Vì vậy chống trinh sát
là công việc đầu tiên của nhiệm vụ bảo vệ vô tuyến điện tử. Những biện pháp th-
ờng hay dùng nữa là : hết sức hạn chế phát xạ, giảm công suất phát, thu hẹp cánh
sóng thay đổi tần số làm việc (từng ngày, từng giờ, từng lúc, thậm chí từng xung
một). Dùng mật mã, dũng những kênh truyền đạt có tính bí mật cao : nh giải sóng
quang, dải vi ba, tầng đối lu lập những đài bắt gió, tổ chức kiểm tra thông tin vô
tuyến điện tử chặt chẽ
Trong thực tế việc thay đổi tần số đúng lúc sẽ làm đối phơng khó phát hiện đợc
các đối tợng trinh sát nếu họ chỉ căn cứ vào bức xạ điện tử của đối tợng đó. Khi
hoạt động ở mỗi cấp chỉ huy, các phơng tiện thông tin vô tuyến, các mạng rađa,
đều phải đợc chỉ định tần số làm việc chính dự bị.
Chống nhiễu.
Là tất cả các biện pháp kĩ, chiến thuật nhằm hạn chế triệt tiêu các hình thức tác
động của nhiễu, đảm bảo sự làm việc bình thờng cho các phơng tiện vô tuyến điện
tử bản thân.
* Các biện pháp chiến thuật
-Phân bố một cách hợp lý tần số công tác.
-Cho các phơng tiện cùng thực hiện một nhiệm vụ làm việc trên nhiều tần số.
-Thay đổi tần số làm việc.
-Cho các phơng tiện vô tuyến điện tử làm việc ở chế độ công suất thấp và bố trí
hợp lý trên địa hình.
-Chọn hớng phát và hớng thu.
-Huấn luyện trắc thủ trong điều kiện có sử dụng nhiễu vô tuyến điện tử.
-Giảm thời gian phát xạ.
* Các biện pháp khác :
Muốn chống nhiễu tốt trớc hết phải hiểu rõ nguồn nhiễu, vì vậy phải tiến hành
trinh sát nhiễu, khai thác những điểm phân biệt giữa tín hiệu và nhiễu, vận dụng
những phơng pháp hiệu quả chế biến và xử lý tin nhằm chọn đợc những tín hiệu
trên nền nhiễu.
Phải sử dụng những máy phát nhiều kênh, triển khai những mạng lới vô tuyến
nhiều khâu, nhiều đờng, bố trí rađa trên nhiều dải tần khác nhau để nếu nhiễu làm
tắc kênh này, khâu này thì đã có ngay kênh khác, khâu khác.
Tiêu diệt ngay những nguồn phát nhiễu bằng tên lửa tự dẫn (hay hoả lực khác)
cũng là một biện pháp tích cực. Chống nhiễu và chống trinh sát rất đa dạng, rất
phong phú nhng cũng rất phức tạp. Nếu đạt đợc mục tiêu chống trinh sát, chống
nhiễu thì trong nhiều trờng hợp lại : ảnh hởng đến các chức năng khác của thiết bị .
Vì vậy trong quá trình tìm biện pháp chiến thuật và cách giải quyết kỹ thuật phải
chọn một cách tối u để vừa chống đợc nhiễu, chống đợc đối phơng trinh sát lạ vừa
đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của phơng tiện.
* Phối hợp điện từ trờng : là tập hợp tất cả những điều kiện và phơng pháp mà
vô tuyến điện tử có thể thực hiện chức năng của nó, không cho phép giảm các đặc
trng chủ yếu khi có tác động phát xạ của các thiết bị vô tuyến điện tử khác và trớc
hết không ảnh hởng đến hoạt động của nó. Phối hợp điện từ trờng giống nhiệm vụ
chống chiến tranh vô tuyến điện tử nhng chỉ có khác ở đây là : tín hiệu nhiễu trong
trờng hợp này hoàn toàn ngẫu nhiên, không cố ý. Nó cũng gồm các biện pháp kỹ
thuật và chiến thuật.
* Vai trò của con ngời : mối con ngời và vũ khí, khí tài trong chiến tranh vô
tuyến điện tử cần chặt chẽ hơn bất kỳ một loại quan hệ nào khác. Vì nó có khả
năng vạch nhiễu tìm thù dàn dựng nguỵ trang chống trinh sát, và linh hoạt đối
phó với bất kỳ một sự thay đổi nhanh và liên tục nào của chiến tranh vô tuyến điện
tử vốn đã sẵn có tính chất linh hoạt cao.
2) Tác động của khoa học kỹ thuật điện tử công nghệ cao đến sự phát triển
của các phơng tiện TCĐT
Trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã có tác động rất nhiều đến quân sự.
Những tác động và ảnh hởng sâu sắc của khoa học kỹ thuật đến kỹ thuật quân sự là
hoả lực và khả năng cơ động. Tăng khả năng sống còn của vũ khí.
Trong những năm của thập kỷ 80 các phơng tiện tác chiến điện tử phát triển
nhanh về cả số lợng và chất lợng. Trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991 các ph-
ơng tiện tác chiến điện tử đã đợc sử dụng rất rộng rãi. Từ các vệ tinh đến các máy
bay, chiến xa, chiến hạm nổi, tầu ngầm đều đợc trang bị các phơng tiện tác chiến
điện tử hình thành một hệ thống tác chiến điện tử không gian ba chiều, nhiều tầng,
nhiều lớp, nhiều hớng với nhiều dải sóng khác nhau, tạo thành hệ thống C3I hoàn
hảo thực hiện việc chỉ huy kiểm soát thông tin tình báo thời gian thực trên chiến tr-
ờng. Đồng thời các hệ thống tác chiến điện tử còn có khả năng chế áp điện tử, gây
nhiễu, chống rađa làm cho hệ thống thông tin rỗi loạn, rađa bị mù và hệ thống
chỉ huy tê liệt, vũ khí mất khả năng điều khiển.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật không chỉ làm thay đổi hiệu suất làm việc
của hệ thống chỉ huy, tác chiến, nâng cao uy lực và độ chính xác của trang bị, mà
còn tạo ra phơng thức tác chiến mới, cung cấp cơ sở cho tác chiến điện tử. Nhìn lại
các cuộc chiến tranh cục bộ trong những năm vừa qua dù tên lửa vệ tinh hay rađa,
hệ thống C3I đều không thể tách rời kỹ thuật điện tử. Sự cao thấp về tính năng liên
quan chặt chẽ đến mức độ vận dụng kỹ thuật vi điện tử. Cùng với việc từng bớc
hiện đại hoá của hệ thống vũ khí, hàm lợng, tỷ trọng ngày càng lớn.
Khả năng cơ động :
Trong tác chiến hiện đại tốc độ có ý nghĩa rất lớn có quyết định thành bại, công
nghệ mới đã cho phép nhiều nớc chế tạo các phơng tiện chiến tranh : xe tăng,
pháo tự hành, máy bay, tàu biển đạt đợc những tốc độ tối u , đảm bảo có thể
phản ứng nhanh kể cả trong tình huống chiến lợc, chiến dịch, chiến thuật đặc
biệt các loại pháo mặt đất phòng không đã đợc tự hành hoá nhiều loại phơng
tiện tiến công đờng không có thể tuỳ theo chơng trình đặt sẵn hoặc đặc tính của
địa hình hay điều khiển từ xa, làm vô hiệu hoá hệ thống phòng không đối ph-
ơng, có thể đa bom, đạn, tên lửa vào lúc và vị trí cần thiết một cách bí mật bất
ngờ, chính xác trong mọi điều kiện thời tiết ngày đêm, không phụ thuộc vào địa
hình, địa vật xung quanh mục tiêu. Các loại máy bay chiến đấu đã có thể bay ở
độ cao thấp hoặc cực thấp, vợt qua các loại địa hình phức tạp, tránh sự quan sát
và hoả lực phòng không.
Việc sử dụng rộng rãi các loại máy bay vận tải, trực thăng để chở quân và các
trang bị đã tăng khả năng cơ động, triển khai các lực lợng chiến thuật, chiến dịch
và cả chiến lợc nhanh chóng tạo những đột biến về tơng quan thế lực mở những h-
ớng tấn công mới thay đổi hớng chủ yếu và duy trì nhịp độ tiến công cao suốt quá
trình trận chiến đấu, chiến dịch, đánh phá ác liệt trên phạm vi rộng, uy hiếp cả tiền
tuyến và hậu phơng của địch. Với trực thăng có thể thực hiện bao vây theo chiều
thẳng đứng và nhảy cóc nhanh chóng, bất ngờ đột kích vào bên sờn phía sau
lực lợng đối phơng.
Cùng với các phơng tiện trinh sát-báo động chỉ huy-kiểm soát, truyền thông
công nghệ cao. Máy bay, tàu chiến, tên lửa đã tạo phép nhanh chóng cơ động hoả
lực trên phạm vi toàn chiến trờng đảm bảo nhanh chóng chính xác tiêu diệt các
mục tiêu bằng cách thực hiện đồng thời các loại hoả lực. Việc xác định mục tiêu
nhanh hơn, chọn và thực hành hoả lực trong thời gian trớc khi đối phơng kịp phản
ứng hiệu quả nhanh chóng đạt đợc mục đích của trận đánh với tổn thất nhỏ nhất.
Tăng khả năng sống còn của vũ khí trang bị :
Trong tác chiến bảo vệ đợc vũ khí phơng tiện tiến công chủ lực của mình vào
thời cơ và địa điểm quan trọng nhiều khi có giá trị quyết định hơn việc tiêu diệt các
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét