Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ kế toán cho vay tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam

Chuyên đề tốt nghiệp
chứng từ rất lớn, rất đa dạng đáp ứng nhu cầu của các mối quan hệ trong nền
kinh tế thị trường. Để làm được điều này đòi hỏi Ngân hàng phải có những
thể thức thanh toán phù hợp, phải tổ chức quy trình luân chuyển chứng từ sao
cho có khoa học, thuận tiện, nhanh chóng, đảm bảo an toàn tài sản.
Để phát huy vai trò của mình, kế toán Ngân hàng có các nhiệm vụ sau:
Sự ghi chép phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi nghiệp vụ kinh tế phát
sinh thuộc về hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn Ngân hàng theo đúng
pháp lệnh Kế toán thống kê của Nhà nước và theo thể lệ của kế toán hiện
hành trên cơ sở đó để đảm bảo an toàn tài sản (vốn) của bản thân Ngân hàng
và của khách hàng, của xã hội được bảo quản tại Ngân hàng.
- Phân loại nghiệp vụ, tổng hợp số liệu theo đúng phương pháp kế toán và
theo những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp thông tin một cách đầy đủ,
chính xác và kịp thời phục vụ quá trình lãnh đạo, thực thi chính sách quản lý
và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Giám sát quá trình sử dụng tài sản, nguồn vốn nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản, nguồn vốn qua việc kiểm soát trước các nghiệp vụ bên nợ và
bên có ở từng Ngân hàng cũng như toàn hệ thống góp phần tăng cường kỷ
luật tài chính củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
- Tổ chức giao dịch phục vụ khách hàng một cách khoa học, văn minh,
giúp đỡ khách hàng nắm được những nội dung cơ bản của kỹ thuật nghiệp vụ
Ngân hàng nói chung và kỹ thuật nghiệp vụ Kế toán nói riêng góp phần thực
hiện chiến lược khách hàng của Ngân hàng.
I.2.2. Vai trò của kế toán cho vay.
Trong toàn bộ hoạt động của nghiệp vụ Kế toán Ngân hàng thì Kế toán
cho vay được xác định là nghiệp vụ Kế toán phức tạp và rất quan trọng, nó
góp phần bảo vệ an toàn vốn mà Ngân hàng đã đầu tư cho các thành phần
kinh tế. Các thành phần kinh tế được vay vốn thể hiện ở số dư trên tài khoản
tiền vay tại nh thông qua việc tổ chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ,
chính xác kịp thời các khoản cho vay thu nợ, chuyển nợ quá hạn, đồng thời
theo dõi giám sát chặt chẽ dư nợ đảm bảo an toàn vốn.
Kế toán cho vay phục vụ đắc lực trong việc chỉ đạo chấp hành chính
sách tiền tệ tín dụng của Đảng và Nhà nước trong nền kinh tế thị trường với
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
cơ chế tín dụng hiện nay, cụ thể là Ngân hàng là cơ quan chuyên môn được
giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện triển khai áp dụng mức lãi suất mà Ngân
hàng Nhà nước đưa ra điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế chủ động
về vônd phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Việc thực hiện tốt công
tác Kế toán cho vay làm tham mưu đắc lực cho công tác tín dụng để tín dụng
thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế cũng như giám đốc bằng tiền với toàn bộ
hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của Kế toán cho vay, việc tổ chức bộ
máy Kế toán trong mỗi Ngân hàng đều thực sự cần thiết, ở đó việc hạch toán
Kế toán phải phù hợp với từng phương thức cho vay, loại cho vay, thời hạn
cho vay nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cao nhất cho Ngân hàng, bên cạnh
đó đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng hay hạn chế thấp nhất rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình hạch toán Kế toán tiền vay.
Để phát huy được vai trò của mình, Kế toán cho vay phải thực hiện tốt
các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, kiểm tra và xác định tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ Kế
toán cho vay để đảm bảo khoản cho vay có khả năng thu hồi ngay từ khâu
phát tiền vay.
Thứ hai, ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh về cấp tín dụng, về nghiệp vụ đầu tư, về quá trình
thu hồi vốn gốc và lãi.
Thứ ba, giám đốc, theo dõi chặt chẽ các khoản mục tín dụng, đầu tư đã thực
hiện thông qua việc kiểm soát và quản lý hồ sơ về cho vay trên cơ sở bảo vệ
an toàn tài sản góp phần nâng cao hiệu quả, mở rộng hoạt động tín dụng toàn
đơn vị cũng như toàn hệ thống.
Thứ tư, tổng hợp thông tin về hoạt động tín dụng để cung cấp cho lãnh đạo
và làm tham mưu cho hoạt động nghiệp vụ cũng như chỉ đạo thực hiện chính
sách kinh tế vĩ mô.
Như vậy, Kế toán cho vay là một công cụ gián tiếp tạo cho Ngân hàng
những nguồn thu nhập trên cơ sở đó Ngân hàng thực hiện chức năng kinh
doanh và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Với vai trò quan trọng như vậy, hệ
thống Kế toán Ngân hàng phải hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng nhu cầu, đòi
hỏi về vốn ngày càng cao của nền kinh tế.
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
I.3. Nội dung về Kế toán cho vay.
I.3.1. Chứng từ sử dụng trong Kế toán cho vay.
Trong quan hệ tín dụng, xét về mặt quan hệ kinh tế pháp lý thì toàn bộ số
tiền của Ngân hàng, các tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng phản
ánh số nợ mà người đi vay nhận nợ với Ngân hàng và phải hoàn trả trong
những kỳ hạn nhất định gồm cả gốc và lãi. Tính pháp lý của các khoản nợ này
được thể hiện trên các chứng từ Kế toán cho vay đã được pháp luật thừa nhận.
Vậy chứng từ dùng trong Kế toán cho vay là những giấy tờ đảm bảo về
mặt pháp lý các khoản cho vay của Ngân hàng. Mọi sự tranh chấp về các
khoản cho vay hay trả nợ đều phải giải quyết trên chứng từ Kế toán cho vay.
Chứng từ Kế toán cho vay gồm có:
- Chứng từ gốc: là chứng từ có giá trị pháp lý trong quan hệ tín dụng xác
định quyền và nghĩa vụ của hai bên đi vay và cho vay. Chứng từ gốc bao
gồm: Hợp đồng tín dụng, đơn xin vay, bảng Kê tính lãi, khế ước vay tiền.
Trong đó, đơn xin vay và khế ước vay tiền dùng trong phương thức cho vay
từng lần.
- Chứng từ ghi sổ: là chứng từ làm thủ tục Kế toán, là căn cứ được lập
trên cơ sở chứng từ gốc. Chứng từ ghi sổ gồm: giấy lĩnh tiền mặt hoặc séc
lĩnh tiền mặt trong trường hợp cho vay bằng tiền mặt, các chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc thanh toán trong
trường hợp cho vay bằng chuyển khoản.
Đối với phương thức tín dụng theo hạn mức tín dụng, khi cho vay không
phải lập khế ước vay tiền mà chỉ phải ký kết hợp đồng tín dụng thì tính chất
pháp lý của khoản cho vay thể hiện ngay trên các chứng từ phát tiền vay như
séc lĩnh tiền mặt, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu cũng như hàng tháng tiến hành
đối chiếu xác nhận nợ theo số dư các tài khoản cho vay theo hạn mức tín dụng
trên cơ sở hạch toán chi tiết.
Các chứng từ kế toán cho vay phải có đầy đủ tính pháp lý xác định quyền
chủ thể cho vay của ngân hàng đối với khách hàng, chỉ rõ những người nhận
nợ và cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
I.3.1.1 Nguyên tắc lập chứng từ kế toán cho vay
Để chứng từ kết toán cho vay phản ánh được chính xác sự biến động của
hoạt động cho vay thì phải đảm bảo được các nguyên tắc lập chứng từ sau:
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
- Lập chứng từ được tiến hành ngay khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh (kể
cả chứng từ do khách hàng lập hay chứng từ do nội bộ Ngân hàng lập). Có
như vậy thì kế toán cho vay mới có căn cứ để phân loại, ghi sổ từng loại hình
cho vay, thời hạn vay, là căn cứ để ghi sổ và tổng hợp kế toán một cách kịp
thời.
- Chứng từ dùng trong hạch toán kế toán là hệ thống bản chứng từ do Ngân
hàng quy định, thống nhất in ấn và phát hành. Các yếu tố của chứng từ khi lập
phải ghi đầy đủ, không bỏ trống. Các chứng từ có nhiều liên thì phải kịp lồng
một lần cho nhiều liên để đảm bảo sự khớp đúng giữa các liên, trong đó một
liên là bản chính từ liên 2 trở đi là bản sao. Để đảm bảo tính pháp lý của
chứng từ, không tẩy xoá, sửa chữa, dán giấy đè lên chỗ sai. Nếu sai thì áp
dụng cách sửa sai xóa bỏ trực tiếp chỗ sai hoặc lập chứng từ khác để thay thế.
Các giấy tờ có giá trị cao như séc thì phải huỷ bỏ chứng từ sai và lập chứng từ
khác thay thế.
- Trên bản chính (liên1) các bản chứng từ do khách hàng lập và nộp vào
Ngân hàng (trừ giấy nộp tiền, bảng kê nộp séc) phải có chữ ký của chủ tài
khoản, kế toán trưởng và đóng dấu đơn vị, chữ ký và mẫu dấu phải được đăng
ký trước tại Ngân hàng nơi khách hàng giao dịch.
Các nhân viên Ngân hàng, khi tiến hành nhiệm vụ của mình, tuỳ theo chức
trách nhiệm vụ khi kiểm soát xử lý chứng từ phải ký tên trên chứng từ, mẫu
chữ ký phải đăng ký trước tại kế toán trưởng hoặc nhân viên kiểm soát. Ngoài
ra, trong kế toán cho vay một số chứng từ sau còn phải có chữ ký của giám
đốc Ngân hàng hay được giám đốc uỷ quyền ký thay giámđốc như: các chứng
từ dùng làm cơ sở cho vay, điều chỉnh nợ; các chứng từ do nội bộ Ngân hàng
lập để trích tài khoản tiền gửi của khách hàng thu nợ, thu lãi, chuyển nợ quá
hạn.
I.3.1.2. Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán cho vay.
Quá trình hoàn thành việc hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại
Ngân hàng, chứng từ phải trải qua các khâu: lập hoặc tiếp nhận chứng từ,
kiểm soát, xử lý nghiệp vụ, hạch toán vào các loại sổ sách thích hợp, tổ chức
bảo quản. Sự vận động đó của chứng từ gọi là luân chuyển chứng từ kế toán.
Với chứng từ kế toán cho vay đảm bảo nguyên tắc sau:
- Đối với chứng từ thu tiền mặt (thu gốc, lãi tiền vay) phải thực hiện "thu
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
tiền trước, ghi sổ sau" tức là thủ quỹ sau khi đã thu đủ tiền, ký tên trên chứng
từ, vào sổ quỹ, sau đó kế toán mới vào sổ sách kế toán (vào máy).
- Đối với chứng từ chi tiền mặt (cho vay theo hạn mức tín dụng) phải thực
hiện "ghi sổ kế toán trước, chi tiền sau", tức là kế toán phải kiểm soát xem sổ
dư tài khoản có đủ khả năng chi trả không, nếu đủ thì sau khi ghi sổ mới
chuyển sang quỹ để chi tiền.
- Các chứng từ chuyển khoản được ghi Nợ-Có đồng thời khi thực hiện kế
toán máy.
- Chứng từ luân chuyển trong nội bộ Ngân hàng phải do Ngân hàng tự tổ
chức luân chuyển lấy, không nhờ khách hàng luân chuyển hộ. Trên cơ sở
những nguyên tắc luân chuyển chứng từ trên, với chứng từ kế toán cho vay
phải trải qua những công đoạn cơ bản sau:
Thứ nhất, trước khi phát tiền vay, bộ phận cấp tín dụng phải nộp bộ hồ sơ
cho vay để kế toán kiểm soát (hợp đồng tín dụng, tên khách hàng vay vốn, số
tiền cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất, kỳ hạn trả nợ) đây được coi là chứng
từ gốc.
Thứ hai, hoàn thành giai đoạn một với bộ hồ sơ hợp lệ, kế toán căn cứ vào
hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ được giám đốc Ngân hàng đồng ý cho
vay, kế toán sẽ hướng dẫn cho khách hàng lập các chứng từ thanh toán để
nhận tiền vay. Khi giải ngân kế toán, phải giám sát tính chặt chẽ của chứng từ
và của đối tượng nhận tiền vay đảm bảo tiền lãi vay được phát ra đúng mục
đích và không vượt mức tiền đã được giám đốc Ngân hàng duyệt cho vay.
Khi giải ngân song giấy tờ đó sẽ được lưu vào hồ sơ vay vốn của khách
hàng để theo dõi thu nợ, lãi.
Sau khi giải ngân, kế toán vào sổ quỹ, thủ quỹ chuyển chứng từ cho kiểm
soát.
Kiểm soát tiến hành kiểm soát lại, sau đó chuyển chứng từ sang cho bộ
phận nhật ký chứng từ.
Sau khi hoàn thành tập nhật ký chứng từ theo thứ tự tài khoản cho vay từ
nhỏ đến lớn, trong đơn vị vay thì xếp theo từng kỳ hạn trả thì tập nhật ký
chứng từ sẽ được đánh số và đưa vào nơi bảo quản theo quy định.
Trong quy trình lập và luân chuyển có nhiều nguyên nhân khiến cho chứng
từ thiếu chính xác: có thể do sơ xuất, có thể do thiếu sự hiểu biết về kỹ thuật
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
lập chứng từ, hoặc do cố ý để tham ô tài sản Nhà nước. Từ đó vấn đề đặt ra là
phải kiểm soát chứng từ để đảm bảo tính đúng đắn của chứng từ trước khi cho
phép nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hoàn thành tại các đơn vị hạch toán.
I.3.1.3. Tổ chức kiểm soát và lưu trữ chứng từ.
Trong kế toán cho vay gồm hai khâu kiểm soát, đầu tiên là khâu kiểm soát
của nhân viên xử lý nghiệp vụ, bao gồm kiểm soát của thanh toán viên (hay
nhân viên quản lý tài khoản), các nhân viên tín dụng, thủ quỹ. Nội dung kiểm
soát bao gồm kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ như: mẫu mực
chứng từ, các yếu tố ghi trên chứng từ, mẫu dấu, chữ ký của chủ tài khoản, số
hiệu tài khoản, ghi Nợ, ghi Có; số dư tài khoản, nội dung nghiệp vụ kinh tế
phát sinh. Thứ hai, là khâu kiểm soát của kiểm soát viên hoặc kế toán trưởng,
nhằm kiểm soát lại một lần nữa tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ, kiểm soát
chữ ký của thanh toán viên và thủ quỹ.
Sau khi hoàn thành việc kiểm soát, tất cả những người có trách nhiệm kiểm
soát chứng từ phải ký tên vào đúng chỗ quy định trên chứng từ.
Trải qua một quá trình luân chuyển, kiểm soát, chứng từ kế toán cho vay
được tổ chức lưu trữ một cách khoa học. Với chứng từ gốc như hợp đồng tín
dụng hay đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ, khế ước vay tiền thì sau khi phát
tiền vay sẽ được lưu trữ trong hồ sơ vay vốn của người vay để theo dõi thu
hồi nợ. Hợp đồng tín dụng xếp theo thứ tự tài khoản cho vay từ nhỏ đến lớn,
trong cùng đơn vị vay thì xếp theo từng kỳ hạn trả, hợp đồng tín dụng chưa
trả hết nợ được nhân viên kế toán bảo quản trong hòm có khoá chắc chắn và
theo dõi để thu nợ. Với chứng từ ghi sổ thì được đóng thành tập theo từng
ngày còn gọi là tập nhật ký chứng từ và cho vào phòng lưu trữ. Tại đây có
một bộ phận chuyên quản lý chứng từ lại có những quy định cụ thể cho việc
sử dụng chứng từ, tra soát chứng từ tránh xảy ra mất mát, sửa chữa sai mục
đích.
I.3.2. Tài khoản sử dụng trong kế toán cho vay.
Tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay thuộc tài sản có của Ngân hàng, nó
dùng để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tiền cho vay của Ngân hàng đối với
người đi vay, đồng thời cũng ghi chép, phản ánh số tiền người vay trả nợ
Ngân hàng theo những kỳ hạn nhất định.
Việc bố trí tài khoản cho vay trong hệ thống tài khoản kế toán Ngân hàng
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
như thế nào là tuỳ thuộc vào yêu cầu của việc chỉ đạo hoạt động tín dụng của
Ngân hàng phục vụ nền kinh tế từng thời kỳ và yêu cầu bảo vệ tài sản của
Ngân hàng.
Khi các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, tư nhân có đủ điều kiện
vay vốn và được Ngân hàng cho vay thì kế toán Ngân hàng sẽ mở cho mỗi
người vay một tài khoản cho vay thích hợp (tài khoản phân tích).
Tài khoản cho vay thuộc nhóm 2 (20, 21, 22, 23) và có kết cấu:
Bên nợ: Ghi số tiền Ngân hàng cho khách hàng vay và được gia
hạn nợ
Bên có: Ghi số tiền thu nợ từ khách hàng
Ghi số tiền chuyển sang nợ quá hạn (nếu có)
Dư nợ: Phản ánh số tiền khách hàng còn nợ NH và được gia hạn nợ
đến một thời điểm.
Trong quan hệ tín dụng giữa người vay và Ngân hàng không phải bao giờ
người vay cũng trả nợ Ngân hàng đúng hạn. Trường hợp đến hạn trả mà người
vay không đủ khả năng trả nợ và cũng không được Ngân hàng gia hạn thì số
nợ đó phải chuyển sang tài khoản nợ quá hạn để theo dõi thu hồi với mức lãi
suất cao hơn mức lãi suất cho vay bình thường.
Kết cấu của tài khoản nợ quá hạn:
Bên Nợ: Ghi số tiền chuyển nợ quá hạn (từ TK cho vay chuyển sang)
Bên Có: Ghi số tiền thu nợ quá hạn
Ghi số tiền được điều chỉnh lại kỳ hạn (chuyển sang TK cho
vay)
Dư Nợ: Phản ánh số nợ quá hạn chưa hoàn trả.
Đi liền với hệ thống tài khoản cho vay là một loạt các TK liên quan khác
như: Tài khoản lãi cộng dồn dư thu, dự trả
Tài khoản dự phòng phải thu hồi khó đòi
Tài khoản ngoại bảng (dùng để phản ánh tình hình nhập, xuất tài
sản thế chấp, cầm cố). Phản ánh tiền lãi cho vay chưa thu hồi được TK nợ khó
đòi.
I.3.3. Quy trình kế toán cho vay.
Có hai phương pháp tính lãi cùng song song tồn tại ( phương pháp tính lãi
theo món và tính lãi theo tích số), mỗi tổ chức tín dụng phải căn cứ vào chế
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
độ cho vay của NHN
0
đã được khách hàng chấp thuận thông qua khế ước vay
tiền và theo chế độ lãi suất do Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Kỹ thương
ban hành để tính thu lãi.
Thứ nhất: Phương pháp tính lãi theo món.
Phương pháp tính lãi theo món áp dụng đối với các món cho vay có quyết
định trả lãi theo từng kỳ hạn bao gồm chỉ trả lãi chưa trả gốc, trả một phần
gốc và lãi tương ứng, trả cả gốc và lãi.
Cách tính lấy số dư Nợ tiền vay nhân với lãi suất cam kết và thời gian tính
lãi, chỉ tính ngày đầu phát tiền vay, không tính ngày thu hết gốc.
Công thức:
Thời gian tính lãi Lãi suất áp
Số tiền lãi = Số tiền nợ x x dụng theo tháng
30 hoặc 360 hay năm
Nếu trong thời gian tính lãi có thay đổi lãi suất mà sự thay đổi đó có hiệu
lực với khoản vay thì phải tính cho từng giai đoạn ứng trước với lãi suất khác
nhau hoặc trong thời gian tính có biến động về số dư Nợ thì cũng phải tính
theo từng thời gian có sự thay đổi đó.
Thứ hai: Tính lãi theo tích số: áp dụng đối với khoản vay ngắn hạn có quy
định thu lãi theo tháng.
Công thức:
Tổng tích số tính lãi trong tháng
Số tiền lãi = x lãi suất tháng
30
Trong đó:
Tổng tích số tính = Số dư Nợ x Số ngày trong tháng duy
Lãi trong tháng hoặc dư Có trì cùng số dư Nợ, dư Có
Nếu ngày thu lãi trùng vào ngày lễ, ngày nghỉ hàng tuần thì chuyển sang
làm việc tiếp theo. Số dư tính lãi là số dư cuối ngày nghỉ lễ, nghỉ cuối tuần
trên.
Thời gian tính nợ quá hạn kể từ ngày tiếp ngay sau ngày đến kỳ hạn trả,
ngày đến kỳ hạn trả nhưng không trả được Nợ trong hạn (có phân kỳ trả nợ).
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
I.3.3.1. Hạch toán kế toán giai đoạn cho vay.
Việc hạch toán tiền vay được thực hiện theo những kỹ thuật khác nhau tuỳ
theo từng phương thức cho vay.
Ở giai đoạn cho vay, khi mà người vay đã làm đơn xin vay gửi tới Ngân
hàng và được Ngân hàng xem xét quyết định việc cho vay. Khi khoản vay
được giám đốc Ngân hàng chấp nhận ký duyệt thì người vay sẽ phải lập kế
ước vay tiền hoặc hợp đồng tín dụng. Sau đó, bộ phận tín dụng sẽ chuyển hồ
sơ cho bộ phận kế toán thực hiện hạch toán cho vay. Bộ phận kế toán kiểm
soát lại và hướng dẫn khách hàng lập các chứng từ kế toán nhận tiền vay theo
quy định. Khách hàng phải lập 3 liên giấy nhận nợ vay tiền (nhân viên kế toán
không được lập hộ khách hàng) và phải ghi đầy đủ các yếu tố trên mẫu in sẵn
đảm bảo tính chất pháp lý của chứng từ cho vay. Điều này có một chút khác
biệt ở phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thì khách hàng chỉ phải ký
kết hợp đồng tín dụng lần đầu, còn những lần giải ngân tiếp theo khách hàng
không phải làm đơn mà chỉ nộp chứng từ thanh toán hợp lệ, hợp pháp như:
séc lĩnh tiền mặt, uỷ nhiệm chi, kèm theo giấy nhận nợ tiền vay, các chứng từ
xin vay phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng… để
nhận tiền vay.
Như vậy, sau khi người vay hoàn thành các thủ tục giấy tờ xin vay theo
đúng quy định, kế toán cho vay căn cứ vào các chứng từ để hạch toán:
Nợ: TK cho vay khách hàng
Có: TK tiền mặt (nếu cho vay bằng tiền mặt)
TK tiền gửi của người thụ hưởng (cho vay bằng chuyển khoản)
TK thanh toán bù trừ, liên hàng (nếu thanh toán khác Ngân hàng).
Đối với món cho vay có tài khoản cầm cố, thế chấp, thì kế toán phải ghi:
Nhập: TK ngoại bảng "Tài sản cầm cố, thế chấp- 944".
Sau khi giải ngân kế toán yêu cầu khách hàng kí nhận nợ trên kế ước hoặc
giấy nhận nợ. Nếu người nhận vay không phải là chủ tài khoản thì phải có
giấy uỷ quyền của chủ tài khoản. Và giấy tờ đó sẽ được lưu vào hồ sơ vay vốn
của khách hàng để theo dõi thu nợ + lãi.
Khi kí hợp đồng vay, Ngân hàng thoả thuận với khách hàng áp dụng
phương pháp lãi cộng dồn dự thu thì định kỳ Ngân hàng sẽ tính lãi dự thu và
hạch toán:
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
Nợ: TK lãi cộng dồn dự thu
Có: TK thu lãi.
I.3.3.2. Hạch toán kế toán giai đoạn thu nợ, thu lãi.
Với phương thức cho vay theo món, Ngân hàng quy định hạn trả cho từng
món. Kỳ hạn đó được xác định trên kế ước hoặc giấy nhận nợ. Người vay
phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng khi đến hạn và việc trả nợ đó có thể
được thực hiện một hoặc nhiều lần trong mỗi kỳ hạn. Mỗi lần thu nợ kế toán
phải xoá nợ trên kế ước hoặc giấy nhận nợ và định kỳ phải tiến hành sao kê
các giấy nhận nợ và khế ước đảm bảo sự khớp đúng giữa dư nợ trên các tài
khoản cho vay và dư nợ trên kế ước và giấy nhận nợ.
Với phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, kỳ hạn nợ được thể hiện
ở kế hoạch trả nợ từng tháng theo thoả thuận ghi trong hợp đồng tín dụng và
đơn vị vay phải nộp tiền bán hàng hoặc các khoản thu nhập khác vào bên có
tài khoản cho vay để trả nợ Ngân hàng. Theo phương thức này, Ngân hàng chỉ
thu nợ trong phạm vi số tiền Ngân hàng đã cho vay. Trong trường hợp đơn vị
vay theo hai tài khoản thì nếu đơn vị đã trả hết nợ nhưng vẫn nộp tiền bán
hàng vào thì kế toán cho vay sẽ hạch toán số tiền dư vào bên có tài khoản tiền
gửi thanh toán của đơn vị.
Bút toán thu nợ gốc được hạch toán:
Nợ: TK tiền mặt tại quỹ
TK tiền gửi của khách hàng (thanh toán cùng Ngân hàng)
TK thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng (nếu thanh toán khác
Ngân hàng)
Có: TK cho vay
- Kế toán thu lãi: đến hạn trả lãi người vay phải nộp tiền hoặc trích tài
khoản tiền gửi để trả, việc trả lãi có thể trả riêng hoặc kết hợp với trả gốc.
Nợ: TK thích hợp (tiền mặt hoặc tiền gửi khách hàng)
Có: TK lãi cộng dồn dự thu.
Còn khi áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thì quá trình
cho vay, thu nợ thực hiện xen kẽ nhau vì vậy Ngân hàng sẽ áp dụng cách tính
thu lãi theo phương pháp tích số dư nợ hàng tháng.
Căn cứ số lãi, hạch toán:
Nợ: TK thích hợp
Có: TK thu lãi cho vay.
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét