Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
295 Dự báo nhu cầu vốn vào giải pháp tạo lập nguồn vốn cho các DN ngành xây dựng ở TP.HCM đến năm 2010- 2020
5
ngành xây dựng ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong mối quan hệ với các ngành
kinh tế của Thành phố cũng như ngành xây dựng trên cả nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung là duy vật biện chứng và duy vật lòch sử. Đề tài đảm bảo sự
kết hợp chặt chẽ giữa tư duy biện chứng với quan điểm lòch sử, xuất phát từ
những yêu cầu cụ thể của thực tiễn để xem xét một cách toàn diện và khái quát
những sự tác động qua lại lẫn nhau.
Đề tài chủ yếu sử dụng dạng thiết kế nghiên cứu mô tả và thiết kế nghiên cứu
dự báo. Đi sâu tìm hiểu nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp và thực trạng đáp
ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Sử dụng các mô hình toán kinh tế
(hàm sản xuất Cobb-Douglas,…) và các công cụ toán kinh tế để phân tích dự báo
nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp xây dựng TP.HCM. Đồng thời kết hợp với
việc nghiên cứu, xem xét những bất cập trong những qui đònh của Chính phủ về
việc tạo cơ chế thông thoáng cho thò trường vốn phát triển, cải cách các thủ tục
hành chính liên quan đến việc cởi trói vốn cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sử
dụng phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh tìm ra những nguyên nhân gây
khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận các nguồn vốn. Từ đó đề ra
những giải pháp kiến nghò nhằm tạo lập thêm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu cho
các doanh nghiệp ngành xây dựng phát triển theo quy hoạch phát triển chung
của Thành phố.
6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN
1.1. TỔNG QUAN VỀ VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1.1. Khái niệm về vốn sản xuất kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế quan trọng trong hệ thống lý luận cũng như hoạt
động thực tiễn của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thò trường, vốn được coi là
toàn bộ giá trò ứng ra cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn
tồn tại từ khi doanh nghiệp mới hình thành cho đến lúc kết thúc doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh trước tiên phải có một
lượng vốn tiền tệ nhất đònh để thực hiện những khoản đầu tư ban đầu cho việc
xây dựng nhà xưởng, mua nguyên nhiên vật liệu, trả công, trả lãi vay, hoặc mua
sắm máy móc thiết bò mới, mở rộng sản xuất kinh doanh,… Các loại vốn tiền tệ
này được gọi là vốn sản xuất kinh doanh, nó là một quỹ tiền tệ đặc biệt có nhiều
chủng loại với các hình thái vật chất khác nhau nằm rải rác khắp nơi theo phạm
vi mạng lưới hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp và phản ánh
tiềm lực về tài chính của doanh nghiệp.
1.1.2. Một số đặc trưng cơ bản của vốn
• Vốn được biểu hiện giá trò của toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử
dụng của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất đònh, là lượng giá trò thực
của tài sản hữu hình và vô hình được sử dụng vào sản xuất kinh doanh nhằm
tạo ra giá trò sản phẩm mới. Tài sản hiện vật hữu hình như nhà xưởng, máy
móc thiết bò, nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, hàng tồn kho và những tài
sản vô hình như thương hiệu, phát minh, sáng chế, thông tin,… Tuy nhiên,
không phải tất cả tài sản đều là vốn mà chỉ có tài sản hoạt động mới được
gọi là vốn, còn tài sản ở trạng thái tónh (chưa được sử dụng trong sản xuất
7
kinh doanh) chỉ là vốn tiềm năng. Đặc trưng này cho phép ta nhận đònh rằng
một trong những biện pháp huy động vốn cho phát triển sản xuất là khai thác
tiềm năng của tài sản xã hội còn đang được cất trữ chưa sử dụng để đầu tư
vào sản xuất kinh doanh.
• Vốn được biểu hiện bằng tiền và được sử dụng vào sản xuất kinh doanh với
mục đích sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền khác với vốn.
Tiền nếu dùng để mua bán trao đổi vật phẩm cho tiêu dùng không phải là
vốn. Tiền chỉ được trở thành vốn khi nó được sử dụng đầu tư kinh doanh với
mục đích sinh lời.
• Vốn bao giờ cũng gắn với chủ sở hữu nhất đònh
• Vốn là một hàng hóa đặc biệt, chỉ bán quyền sử dụng. Cũng như mọi hàng
hóa khác vốn có giá trò và giá trò sử dụng, nó được mua bán trên thò trường
dưới hình thức mua bán quyền sử dụng vốn. Giá cả chính là lãi suất mà người
vay vốn phải trả cho người cho vay để có được quyền sử dụng lượng vốn đó
trong một khoảng thời gian nhất đònh.
• Vốn được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất đònh mới có thể phát huy
được tác dụng. Để đầu tư sản xuất kinh doanh, vốn được tích tụ thành những
món tiền lớn tới một mức tối thiểu phải bằng vốn pháp đònh mà nhà nước đã
quy đònh cho mỗi ngành nghề lónh vực hoạt động. Do đó trong quản lý, vừa
phải cân nhắc tính toán tìm cách chọn nguồn vốn huy động đủ đảm bảo yêu
cầu của sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả kinh tế của đồng vốn.
Vốn là nhân tố tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn
vừa là nhân tố đầu vào, đồng thời vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của
quá trình đầu tư. Chính trong quá trình đó vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố
8
độc lập không thể thiếu được. Vốn phải không ngừng được bảo toàn, bổ sung và
phát triển sau một quá trình vận động để thực hiện việc tái sản xuất giản đơn và
mở rộng của doanh nghiệp.
1.2. SỰ GIỚI HẠN CỦA NGUỒN VỐN.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào sau khi thiết lập và thẩm đònh các dự án đầu tư để
có một danh mục đầu tư hiệu quả nhất đều rơi vào một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1:
Huy động đủ nguồn tài trợ để thực hiện danh mục các dự án đầu
tư đưa ra.
Trường hợp 2:
Doanh nghiệp không thể hoặc không sẵn sàng thực hiện tất cả
các cơ hội đầu tư do doanh nghiệp không có khả năng hoặc không muốn gia tăng
nguồn tài trợ đến mức yêu cầu.
Khi trường hợp 2 xảy ra, trong doanh nghiệp có sự giới hạn về nguồn vốn.
Trên thực tế, khi có nhiều dự án có giá trò hơn những nguồn ngân quỹ có sẵn,
người ta buộc phải xem xét đến vấn đề giới hạn của nguồn vốn. Sự giới hạn của
nguồn vốn bao gồm giới hạn nguồn vốn cứng (Hard Capital Rationing) và giới
hạn nguồn vốn mềm (Soft Capital Rationing).
1.2.1. Giới hạn nguồn vốn cứng
Giới hạn nguồn vốn cứng xuất hiện khi một doanh nghiệp không thể tăng nguồn
tài trợ do nguồn cung cấp bò hạn chế. Đó là những giới hạn do tác động bên
ngoài lên chi phí đầu tư cho việc thực hiện những dự án tiềm năng.
Nguyên nhân xuất hiện giới hạn nguồn vốn cứng bắt nguồn từ sự bất lực hay
không sẵn lòng của doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ tăng thêm.
Những nguyên nhân đó có thể là: Chính sách tiền tệ thắt chặt của Chính phủ;
9
Thò trường vốn hoạt động kém hiệu quả; Nỗi lo sợ gia tăng mức độ rủi ro từ phía
nhà cho vay; Sự thiếu hiểu biết của nhà đầu tư; Môi trường kinh tế-môi trường
đầu tư không ổn đònh; …
1.2.2. Giới hạn nguồn vốn mềm
Giới hạn nguồn vốn mềm là những giới hạn chòu tác động của việc quản trò nội
bộ lên chi tiêu vốn mặc dù đã có sẵn những dự án đầu tư tốt (có NPV dương).
Đây là những giới hạn do tự bản thân doanh nghiệp gây ra.
Những nguyên nhân dẫn đến giới hạn nguồn vốn mềm có thể là: Doanh nghiệp
không đủ khả năng quản lý khi mở rộng đến một mức độ nào đó; Doanh nghiệp
không đủ uy tín đối với những người cho vay và các nhà đầu tư; Sự giới hạn và
phân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp; Sự xuất hiện các chi phí nằm ngoài
tầm kiểm soát của các chủ sở hữu doanh nghiệp; Bất cân xứng thông tin; Tính
cách của những người chủ sở hữu doanh nghiệp;…
1.2.3. Tác động của nguồn vốn giới hạn đến doanh nghiệp
1.2.3.1. Tác động tích cực
Nguồn vốn giới hạn sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể có quyền lợi liên quan có
thể kiểm soát hành động của ban quản trò và do đó giảm được tác động của
thông tin bất cân xứng. Bởi vì nếu một dự án đầu tư thật sự có lợi và làm tăng
giá trò tài sản cho tất cả những người góp vốn thì giới hạn ngân sách vốn buộc
ban điều hành phải huy động thêm vốn để thực hiện dự án.
Nguồn vốn giới hạn cũng giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc tìm nguồn
tài trợ và lập các kế hoạch tài trợ, lập ngân sách tiền mặt. Bởi vì việc hiểu và
xác đònh được nguồn vốn giới hạn giúp cho các doanh nghiệp biết chắc sự có sẵn
10
những nguồn ngân quỹ dành cho những dự án đã lên kế hoạch thực hiện vào
năm tới.
Giới hạn nguồn vốn mềm khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong việc xem xét
qui mô của dự án mới nhằm làm giảm rủi ro kinh doanh, đồng thời doanh nghiệp
sẽ phải xem xét lựa chọn các dự án đầu tư trọng điểm và tránh đầu tư một cách
tràn lan. Đây được xem là một công cụ hoạch đònh và kiểm soát ngân sách vốn.
1.2.3.2. Tác động tiêu cực
Việc không tìm được nguồn tài trợ tăng thêm khiến doanh nghiệp phải giới hạn
chi tiêu vốn của mình dẫn đến việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, đầu tư
manh mún hay phải bỏ qua những dự án tốt, những cơ hội kinh doanh tốt.
Để thực hiện được dự án đầu tư trong sự giới hạn về nguồn vốn, ban quản trò có
thể phải sử dụng đến những nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn cao. Điều này
làm hạn chế hiệu quả của các dự án có NPV dương.
Trong điều kiện nguồn vốn giới hạn, khi muốn lựa chọn một nhóm các dự án tốt
thì điều kiện tiên quyết là các dự án này có thể chia nhỏ hoặc tách ra được. Trên
thực tế, điều này rất khó xảy ra. Vì vậy, nguồn vốn giới hạn sẽ có những ảnh
hưởng không tốt đến hiệu quả dự án đầu tư.
Khi các nhà quản lý lựa chọn dự án “quá bảo thủ” để làm giảm những “rủi ro
chức vụ” đã vô tình tạo ra giới hạn nguồn vốn mềm cho các dự án tốt, vì sự lựa
chọn này tạo ra nhiều chi phí, các chi phí này được tính vào chi phí đại diện của
doanh nghiệp.
Hành động cắt giảm chi phí các dự án đầu tư mới đôi khi dẫn dắt các nhà điều
hành đến suy nghó : các dự án đầu tư này có thể trì hoãn thực hiện mà không làm
11
mất đi cơ hội đầu tư. Tuy nhiên trên thực tế các cơ hội đầu tư tốt nhất đã mất đi
vì sự trì hoãn đó.
Sự giới hạn về nguồn vốn buộc các nhà tài chính phải chia cắt dự án lớn thành
nhiều dự án nhỏ hơn, đôi khi họ còn trì hoãn việc thực hiện các dự án này. Các
nhà nghiên cứu cho rằng nếu doanh nghiệp thực hiện ngay các dự án nhỏ hơn
này thì doanh nghiệp vẫn có thể thu được những khoản lợi nhuận đáng kể. Còn
nếu doanh nghiệp bỏ qua ngay cả việc thực hiện các dự án nhỏ hơn này thì
khoản lợi nhuận tiềm năng mà doanh nghiệp mất đi là rất lớn.
Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ở các nước phát triển hạn chế về nguồn
vốn cứng tương đối ít, nguồn tài trợ dường như luôn có sẵn cho các dự án. Hầu
hết các trường hợp giới hạn nguồn vốn thường là giới hạn nguồn vốn mềm. Tuy
nhiên ở các nước đang phát triển, do thò trường vốn chưa phát triển và hoạt động
kém hiệu quả nên việc giới hạn nguồn vốn cứng thường có tác động lớn hơn.
Mặc dù dự án tốt và doanh nghiệp có nhu cầu vốn nhưng để tìm được nguồn tài
trợ thì còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Chẳng hạn doanh nghiệp có đủ
điều kiện để huy động vốn trên thò trường chứng khoán không? Có đủ tài sản để
thế chấp cho các khoản vay không? Có quan hệ tốt với các ngân hàng và các
nhà cho vay khác không?…
1.3. PHÂN LOẠI VỐN
Căn cứ vào mục đích, sự quan tâm và hướng tiếp cận khác nhau mà người ta
phân đònh vốn thành các loại khác nhau.
1.3.1. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng loại vốn trong các giai
đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được chia ra thành hai loại: Vốn
cố đònh và vốn lưu động.
12
1.3.1.1. Vốn cố đònh:
Vốn cố đònh của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về những tư liệu lao động chủ
yếu mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng bộ phận giá trò vào sản
phẩm mới cho đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố đònh mới
hoàn thành một lần luân chuyển (hoặc một vòng tuần hoàn).
Vốn cố đònh gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó, đó là tài sản cố
đònh (TSCĐ), đây là những tư liệu lao động chủ yếu có đủ hai điều kiện có giá
trò tối thiểu ở mức nhất đònh (theo quy đònh hiện nay của Việt Nam là từ 10 triệu
đồng trở lên); có thời hạn sử dụng tối thiểu từ 1 năm trở lên. Vốn cố đònh phản
ánh bằng tiền bộ phận tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp, mà tư liệu lao
động lại là cơ sở vật chất của nền sản xuất xã hội. Vì vậy vốn cố đònh có vai trò
rất lớn với việc phát triển nền sản xuất xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hóa tài sản cố đònh của doanh nghiệp không chỉ bao gồm
tài sản có hình thái hiện vật mà còn bao gồm cả tài sản không có hình thái hiện
vật (tài sản vô hình) như: chi phí mua bằng phát minh sáng chế, thương
hiệu,…loại tài sản không có hình thái hiện vật chuyển dòch giá trò vào sản phẩm
mới cũng tương tự như tài sản có hình thái hiện vật.
Tài sản cố đònh và vốn cố đònh của doanh nghiệp có sự khác nhau. Lúc mới hoạt
động, doanh nghiệp có vốn cố đònh bằng giá trò nguyên thuỷ của TSCĐ. Về sau
giá trò của vốn cố đònh thường thấp hơn giá trò nguyên thuỷ của TSCĐ do khoản
khấu hao và thanh lý TSCĐ, mặt khác lại tăng thêm giá trò do đầu tư xây dựng
cơ bản đã hoàn thành. Trong quá trình luân chuyển, hình thái hiện vật của vốn
cố đònh vẫn giữ nguyên (đối với loại TSCĐ hữu hình), nhưng hình thái giá trò của
nó lại thông qua hình thức khấu hao để đền bù giá trò hao mòn, thực hiện tái sản
xuất TSCĐ.
13
1.3.1.2. Vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động, các doanh nghiệp còn
phải có đối tượng lao động và sức lao động. Đối tượng lao động gồm hai bộ phận
chính là những vật tư dự trữ để bảo đảm cho quá trình sản xuất được tiến hành
liên tục (nguyên, nhiên vật liệu) và những vật tư đang trong quá trình sản xuất
(sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm). Mặt khác quá trình sản xuất luôn
phải gắn liền với quá trình lưu thông làm hình thành trong khâu này một số
khoản hành hóa, tiền tệ và vốn trong thanh toán. Biểu hiện dưới hình thái vật
chất của các yếu tố trên được gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp, số tiền
ứng trước về những tài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Vốn
lưu động tuần hoàn liên tục, hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu kỳ
và chuyển toàn bộ giá trò vào sản phẩm mới ngay trong chu kỳ sản xuất đó.
1.3.2. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn được phân chia thành ba loại:
vốn chủ sở hữu, vốn đi vay và vốn trong thanh toán.
1.3.2.1. Vốn chủ sở hữu:
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có toàn
quyền sử dụng chúng mà không phải cam kết thanh toán. Tỷ trọng vốn chủ sở
hữu so với tổng nguồn vốn phản ánh mức độ chủ động của doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh. Vốn chủ sở hữu bao gồm những khoản sau đây:
Vốn điều lệ là vốn mà chủ sở hữu doanh nghiệp góp vào để thành lập hay mở
rộng doanh nghiệp. Theo quy đònh của pháp luật vốn điều lệ tối thiểu phải bằng
mức vốn pháp đònh quy đònh cụ thể đối với từng ngành nghề kinh doanh. Vốn
điều lệ do ngân sách nhà nước cấp (đối với doanh nghiệp nhà nước), hoặc do các
cổ đông đóng góp (đối với công ty cổ phần), hoặc các đồng sở hữu góp vốn (đối
14
với công ty TNHH). Đây là nguồn vốn chiếm vò trí quan trọng nhất để duy trì
hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình thường.
Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá
Các khoản quỹ được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp (quỹ phát triển kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng
phúc lợi,…) và lãi chưa phân phối.
1.3.2.2. Vốn đi vay:
Vốn đi vay là số vốn doanh nghiệp vay từ các tổ chức tín dụng, từ dân cư, từ các
tổ chức kinh tế, xã hội dưới hình thức vay nợ và phải trả gốc và lãi vay theo thỏa
thuận. Vốn đi vay là khoản vốn mà doanh nghiệp phải cam kết thanh toán.
Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng vốn trong phạm vi những ràng buộc nhất
đònh mà không có quyền sở hữu.
1.3.2.3. Vốn trong thanh toán (vốn chiếm dụng)
Vốn trong thanh toán là khoản tiền phải thanh toán của doanh nghiệp cho các
đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp, mà doanh nghiệp được sử dụng trong
khoảng thời gian chưa đến hạn thanh toán như tiền mua hàng, mua nguyên vật
liệu, tiền thuế phải nộp cho nhà nước, tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân
viên,…
1.4. CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CHO DOANH NGHIỆP
1.4.1. Xin cấp vốn bổ sung
Việc xin cấp vốn bổ sung được áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), và các doanh nghiệp có hình thức tổ chức theo mô hình công ty mẹ -
công ty con. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nhà nước chưa được cấp đủ vốn
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét