Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Du lịch Tam Đảo và vấn đề phát triển bền vững

vững của tự nhiên là cơ sở đảm bảo cho sự thống nhất của các mối quan hệ
giữa tự nhiên – con người – xã hội. Mọi sinh vật, kể cả con người đều sống
trong mối quan hệ không thể tách rời với nhau và với tự nhiên, tất cả cùng kết
hợp với nhau tạo thành hệ sinh thái. Không một sinh vật nào có thể sống mà
không có ngoại cảnh, là toàn bộ thế giới vô cơ, hữu cơ quanh chúng. Tự nhiên
là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên,
thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một
trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã hội. Chỉ có tự nhiên mới cung
cấp đầy đủ nhất những điều kiện tối cần thiết cho sự sống của con người và
những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. “ Công nhân
không thể sang tạo ra cái gì hết nếu không có giới tự nhiên,…, nếu không có
thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu trong đó lao động của anh ta được
thực hiện, trong đó lao động của anh ta tác động, từ đó và nhờ đó, lao động
của anh ta sản xuất ra sản phẩm” – C. Mac_ Angel tuyển tập I. Dù xã hội có
đạt đến mức độ phát triển cao nhất, con người cũng không bao giờ có thể bỏ
được tự nhiên. Ngược lại, xã hội càng phát triển con người càng cần đến tự
nhiên, càng gắn bó chặt chẽ với tự nhiên. Thông qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trước hết là quá trình lao động con người cải tạo và biến đổi tự nhiên,
biến đổi cho phù hợp với nhu cầu sống của mình, tạo ra của cải vật chất cho
xã hội.
Trong hệ thống tự nhiên – con người – xã hội, con người giữ vai trò đặc
biệt quan trọng vì con người là kẻ trực tiếp thực hiện sự thống nhất giữa xã
hội và tự nhiên, đồng thời là sự hiện than của sự thống nhất đó.
1.4.4 Ý nghĩa rút ra từ nguyên lý thống nhất vật chất của thế giới đối với
việc giải quyết các vấn đề sinh thái hiện nay.
Trên cơ sở nhận thức được vị trí của con người và xã hội trong hệ
thống, nắm bắt được cội nguồn của sự thống nhất và cơ chế hoạt động, để
đảm bảo sự thống nhất đó, con người cần phải tìm ra phương cách thích hợp,
cần thiết để giải quyết những mâu thuẫn giữa xã hội và tự nhiên.
5
Phải có quan điểm hệ thống, quan điểm toàn diện và phát triển trong
việc giải quyết các vấn đề sinh thái hiện nay.
Sự thống nhất của ba yếu tố: tự nhiên – con người – xã hội trong hệ
thống là tất yếu, khách quan và vốn có. Con người phải có trách nhiệm thiết
lập lại sự thống nhất đó để tạo nên sự hài hoà giữa tự nhiên và xã hội.
1.4.5 Một số giải pháp cơ bản đối với vấn đề môi trường sinh thái hiện
nay.
a. Thay đổi nhận thức – xây dựng ý thức sinh thái.
Để phát triển, con người và xã hội đã không ngừng tác động lên tự
nhiên và chắc chắn ở mức độ này hay mức độ khác con người đã làm ảnh
hưởng và làm thay đổi tự nhiên. Một số mâu thuẫn nảy sinh giữa hoạt động
sản xuất, cụ thể là lực lượng sản xuất đang phát triển với môi trường tự nhiên
đang bị lực lượng sản xuất đó biến đổi. Mâu thuẫn đó trước hêt kìm hãm sự
phát triển của sản xuất, thong qua đó là sự phát triển của xã hội. Angel nói
rằng: “ Trí tuệ của con người được phát triển tương ứng với vái mà họ học
biến đổi tự nhiên”. Kết quả giải quyết mâu thuẫn giữa tri thức có hạn của mỗi
thời đại lực lượng và môi trường tự nhiên đã cho ra đời những phát minh mới,
nhanh chóng biến thành công cụ sản xuất mới để khai thác tự nhiên, mang lại
hiệu quả cao hơn… Quá trình không ngừng giải quyết các mâu thuẫn giữa xã
hội đang phát triển với tự nhiên là cần thiết đối với sự phát của nhân loại.
Nhưng sự giải quyết mâu thuẫn của con người và tự nhiên chủ yếu chỉ nhằm
phục vụ lợi ích của con người, vì sự tồn tại và phát triển của xã hộ. Chính vì
vậy, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của xã hội là
sự suy thoái của môi trường tự nhiên. Con người hiện đại không thể sống
thiếu khoa học – kỹ thuật công nghệ cũng như không thể sống thiếu tự nhiên.
Chính vì lý do đó mà con người đứng trước mâu thuẫn gay gắt chưa từng có
giữa sự nhận thức ( tri thức) sản xuất, xã hội với môi trường tự nhiên. Giải
quyết mâu thuẫn này không chỉ dừng lại ở lợi ích của con người mà phải tính
đến cả sự sống của tự nhiên, đến sự cùng tồn tại trong mối quan hệ hài hoà
6
giữa xã hội và tự nhiên. Để giải quyết vấn đề này, trước hết cần phải bắt đầu
từ việc xây đựng sinh thái, tức là phải xây dựng lại quan điểm của con người
về mối quan hệ con người ( xã hội) và tự nhiên.
b. Tiến hành những hoạt động có ý thức nhằm tái sản xuất và tiến đến
tái sản xuất mở rộng chất lượng môi trường sinh thái.
Khi tác động lên tự nhiên và biến đổi nó, con người luôn đặt ra cho
mình mục đích có tính chất vật chất nhằm phát triển nền sản xuất của xã hội
để không ngừng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người và sự phát
triển của xã hội. Với mục đích đó con người lao vào khai thác tự nhiên bất
chấp quy luật tồn tại và phát triển của nó. Trong thời gian qua, nền sản xuất
của các quốc gia trên thế giới đã “ tiêu xài” một cách quá phung phí nguồn
vốn quan trọng vào bậc nhất - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Mặc dù
vẫn thừa nhận các nguồn tài nguyên tự nhiên là nguồn vốn nhưng vì không
phải mất chi phí hoặc mất ít chi phí mà có được nên con người thường quy
chúng vào là thu nhập, điều này làm cho tài nguyên bị khai thác và sử dụng ồ
ạt, lãng phí dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên.
Để giải quyết mâu thuẫn này, tiến đến xây dựng mối quan hệ hài hoà
giữa tụ nhiên – xã hội, con người phải tái sản xuất môi trường sống. Quá trình
này trước hết phải được bắt đầu từ chính ngay trong phương thức sản xuất,
bằng cách đưa nền sản xuất xã hội hoà nhập như một khâu tụ nhiên của chu
trình sinh học. Do đó phải thay đổi phương thức sử dụng các nguồn tài
nguyên tự nhiên từ bề rộng sang bề sâu, cố gắng sử dụng tối đa các tính năng
của nó, dể cuối cùng, nền sản xuất xã hội chỉ thải ra khỏi quá trình sản xuất
những chất mà tự nhiên có thể tiếp thu và sử lý được.
c. Kết hợp các mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái.
Kinh nghiệm thực tế của các nước công nghiệp phát triển cho thấy,
những thiệt hại về kinh tế do sự ô nhiễm môi trường tự nhiên đem lại và chi
phí để khắc phục lớn hơn nhiều so với chi phí chủ động ngăn chặn ngay từ
đầu sự ô nhiễm. Đồng thời, việc ngăn chặn sự ô nhiễm dễ dàng hơn việc thủ
7
tiêu những hậu quả của nó. Do đó, đầu tư bảo về môi trường trong mọi trường
hợp đều mang lại lợi ích kinh tế to lớn, đồng thời lại cải thiện và bảo toàn
được chất lượng môi trường sống. Chủ động bảo vệ môi trường vừa đạt được
mục tiêu kinh tế, vừa đạt được mục tiêu sinh thái. Một trong những biện pháp
quan trọng nhất để kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái là thực hiện
tối ưu hoá tiêu dung. Trong sản xuất, con người chưa coi nguồn tài nguyên tự
nhiên là vốn sản xuất vì vậy cần phải có chi phí lớn hơn để có được tài
nguyên tự nhiên và tính chi phí này vào giá thành sản phẩm. Nền sản xuất xã
hội chưa quan tâm đúng mức đến hiệu quả của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, từ khâu khai thác chế biến đến các chất thải. Cụ thể, phần lớn các quá
trình sản xuất chưa đáp ứng được những yêu cầu sinh thái đã thải quá nhiều
chất độc ra ngoài môi trường. Việc xây dựng các trang thiết bị làm sạch môi
trường sinh thái cần phải có vốn đủ lớn, giá trị của trang thiết bị thường chiếm
từ 20 – 40% giá trị của vốn cơ bản của xí nghiệp. Song con người vẫn phải
làm vì dù sao cũng ít hơn rất nhiều so với các chi phí để khắc phục hậu quả.
d. Hướng mọi hoạt động của con người vào mục đích phát triển bền
vững.
II. Tiềm năng du lịch Tam Đảo.
2.1. Giới thiệu chung về Tam Đảo.
2.1.1. Vườn Quốc gia Tam Đảo.
Tam Đảo được đánh giá là huyện có thế mạnh phát triển kinh tế du lịch,
mảnh đất giàu tiềm năng này có Vườn Quốc gia Tam Đảo nơi bảo tồn thiên
nhiên với thảm thực vật phong phú, lưu giữ hàng ngàn loài cây, động vật quý
hiếm, có khu nghỉ mát Tam Đảo mỗi năm thu hút hàng ngàn lượt khách trong
và ngoài nước tới tham quan nghỉ dưỡng. Khu di tích danh thắng Tây Thiên
thờ Quốc mẫu Năng Thị Tiêu đã đi vào lịch sử dân tộc, Thiền Viện Trúc Lâm
cái nôi của Phật giáo. Tam Đảo còn cả một quần thể di tích kiến trúc phức
hợp có giá trị lịch sử và tín ngưỡng. Cùng với khu nghỉ mát Tam Đảo và khu
di tích danh thắng Tây Thiên, hồ Làng Hà, Hồ Xạ Hương, sân Gold… tạo nên
8
một quần thể du lịch hấp dẫn đầy tiềm năng, hàng năm đã tạo sự hấp dẫn du
khách đến với vùng đất này.
Việc thành lập huyện miền núi Tam Đảo nằm trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm khai thác tiềm năng du lịch ở khu vực
phía Bắc, với mục tiêu xây dựng Tam Đảo thành một huyện du lịch, góp phần
tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, tăng cường, củng cố quốc phòng,
an ninh trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ
2005 – 2010 là: “ Tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tê, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng lấy kinh tế du lịch làm mũi
nhọn, làm động lực thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Nhanh chóng
khắc phục tình trạng kinh tế thuần nông, tạo tiền đề cho phát triển bền vững.
Phấn đấu đến năm 2010 Tam Đảo cơ bản trở thành huyện du lịch, đến năm
2020 trở thành huyện du lịch trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế của
tỉnh và khu vực…". Như vậy có thể thấy được rằng lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc
đã chọn du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn để xây dựng và phát triển Tam Đảo
và tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 06 - 03- 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 136/TTg
về việc phê duyệt “ Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam
Đảo”. Ngày 15 - 05- 1996 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp &PTNT đã có quyết
định số 601 NN- TCCB/QĐ về việc thành lập VQG Tam Đảo trực thuộc Bộ
Nông nghiệp &PTNT.Hiện nay VQG Tam Đảo có diện tích 34.995 ha , nằm
trọn trong dãy núi Tam Đảo và trên địa bàn của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên và Tuyên Quang. Vườn hiện có 26.163 ha rừng - chủ yếu là rừng tự
nhiên mưa ẩm thường xanh, độ che phủ chiếm trên 70 % tổng diện tích toàn
Vườn. Thú rừng có chừng 45 loài, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm như hổ,
báo, gấu, sóc bay, chồn mực Về chim, có tới 120 loài, hầu hết là các chim
ăn sâu bọ. Nhiều loài chim cảnh màu sắc rực rỡ như vàng anh, sơn tiêu trắng,
sơn tiêu đỏ hoặc có giọng hót rất hay như hoạ mi, khướu bách thanh. Các
9
giống chim quý này làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng Tam Đảo.
Rừng tự nhiên ở đây bao gồm hai kiểu chính là rừng thường xanh đất thấp và
rừng thường xanh núi thấp. Rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao từ
700 đến 800 m. Tính đa dạng các loài cây gỗ ở kiểu rừng này rất cao với rất
nhiều đại diện của các họ Đậu Fabaceae, Dầu Dipterocarpaceae, Xoan
Meliaceae, Trám Burseraceae, Sim Myrtaceae và Xoài Anacardiaceae. Đây là
kiểu rừng đang bị xuống cấp mạnh. Rừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ
cao trên 800 m. Trong kiểu rừng này hầu như không còn thấy xuất hiện một
đại diện nào của họ Dầu Dipterocarpaceae, các loài ưu thế thuộc vào các họ
Dẻ Fagaceae, Long não Lauraceae, Mộc lan Magnoliaceae, Cau dừa
Aceraceae, Chè Theaceae, Sau sau Hamamelidaceae, Sến Sapotaceae và Đỗ
quyên Ericaceae. Trong kiểu rừng này cũng có đại diện của nhiều loài hạt trần
như Kim giao Decussocarpus fleuryi, Dẻ tùng sọc trắng hẹp Amentotaxus
argotaenia, Thông nàng Podocarpus imbricatus và
Pơ-mu Fokienia hodginsii. Ngoài hai kiểu rừng chính kể trên, Vườn
Quốc gia Tam Đảo còn có 669 ha rừng lùn ưu thế bởi các loài thuộc họ Đỗ
quyên Ericaceae và Chè Theaceae
Hiện nay trong rừng vẫn còn có rất nhiều loài thú và hệ thực vật quý
hiếm, rừng là môi trường để các loài thú này cư trú, tránh cho các loài này
khỏi bị tuyệt chủng. Vì vậy ta có thể thấy được gia trị quan trọng của vườn
quốc gia Tam Đảo đối với hệ động thực vật nơi đây.
Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sông
chính: ở phía đông bắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía tây
nam của khối núi nằm trong đường phân thủy của sông Đáy. Hầu hết các sông
suối bên trong Vườn quốc gia đều dốc và chảy xiết. Ta có thể thấy được với
địa hình như vậy thì vườn quốc gia Tam Đảo vừa có vai trò cản lũ vào mùa
mưa, vừa có vai trò giữ nước cho cả vùng. Nếu vườn quốc gia Tam Đảo bị tàn
phá thì nguy cơ lũ quét xảy ra ở vùng này là rất lớn, ảnh hưởng đến nhiều mặt
của đời sống, cả về kinh tế và điều kiện sinh hoạt của người dân nơi đây.
10
2.1.2 Tam Đảo 1
Vị trí: Khu du lịch Tam Đảo thuộc thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo,
tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội 86 km.
Đặc điểm: Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong ngày; khung cảnh thơ
mộng, hùng vĩ. Mùa du lịch đẹp nhất trong năm ở Tam Đảo là vào mùa hè.
Thiên nhiên đã ban tặng cho Tam Ðảo một khung cảnh tuyệt vời: vừa
thơ mộng, vừa hùng vĩ, sự huyền ảo của mây gió, sương khói vờn trên đỉnh
núi rồi sà xuống những thảm cỏ, những mái ngói đỏ trên sườn núi. Tam Ðảo
là một dãy núi dài khoảng 80km theo hướng tây bắc - đông nam, rộng từ 10 -
15km, là khu nghỉ mát ở núi lý tưởng của miền Bắc. Tam Đảo có diện tích
253ha nằm trên độ cao 900m so với mặt biển. Từ thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc sau 1 giờ xe chạy là lên tới Tam Ðảo. Thêm 20km đường dốc,
lượn qua các sườn núi thông mọc thẳng tắp nhìn lên cao vút, mờ mờ ẩn hiện
Tam Ðảo trong sương.
Núi Tam Đảo có 3 đỉnh nổi lên như 3 hòn đảo: đỉnh giữa có tên Bàn
Thạch cao 1.388m; bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao 1.375m, trên có
tháp truyền hình cao 93m, bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400m.
Thị trấn Tam Ðảo rộng hơn 300ha, nằm gọn trong một thung lũng nhỏ
của dãy Tam Ðảo, đồng thời cũng là một trong những vườn quốc gia lớn nhất
miền Bắc. Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong một ngày. Buổi sáng se
se gió xuân, buổi trưa nóng ấm mùa hạ, buổi chiều lãng đãng heo may mùa
thu, buổi tối lạnh giá của đông. Với khí hậu đặc biệt như vậy, Tam Đảo rất có
sức lôi cuốn du khách đến thăm quan và nghỉ dưỡng.
Ðầu thế kỷ 20, người Pháp đã phát hiện ra Tam Ðảo, xây dựng ở nơi
đây thành khu nghỉ mát với 200 biệt thự, khách sạn, nhà hàng, sân chơi thể
thao, bể bơi, sàn nhảy.
Ðường đi lên núi Tam Đảo tuy hơi vất vả nhưng rất đẹp. Hai bên đường
hoa phong lan, hoa cúc quì và các loài hoa dại nở đầy lối đi, toả hương thơm
rất lạ, màu sắc rực rỡ cộng thêm không biết bao nhiêu là bướm đủ loại rập
11
rờn trên hoa lá. Cảnh đẹp thiên nhiên như vậy khó có thể bỏ qua khi đến với
Tam Đảo. Du khách cũng có thể trải tầm nhìn ra xa để thấy được sự hung vĩ
của núi rừng, nhắm mắt để cảm nhận những cơn gió mát lành lùa vào mái tóc,
cảm nhận được cảm giác thực sự hoà mình vào thiên nhiên, mọi mệt mỏi ưu
tư sẽ biến mất.
Từ trung tâm thị trấn, rẽ bên phải theo một con đường mòn, hút xuống
thung lũng sâu, thác Bạc giấu mình trong núi, đổ xuống những dòng nước
trắng bạc và chiếu sắc cầu vồng. Một dòng suối nhỏ từ trên cao 30m ào ào
tuôn nước, tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá tạo ra những bản
nhạc của núi rừng nơi đây. Bản nhạc của tự nhiên đưa con người vào thế giới
bình an thư thái, quên đi mọi buồn phiên của cuộc sống. Nếu thích mạo hiểm,
hãy đi xa chút nữa tới đỉnh Rùng Rình, ở đây cây cối, núi non đẹp, có nhiều
cây to mấy người ôm phủ đầy hoa phong lan, tiếng chim hót ríu rít và có rất
nhiều loài bướm lạ. Xa hơn nữa là Tam Ðảo 2, nơi mà vào thời Pháp cũng là
điểm du lịch nghỉ mát lý tưởng, nhưng nay bị bỏ hoang mang vẻ đẹp hoang
dã, cô liêu.
2.1.3. Dự án Tam Đảo 2.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tung, phó giám đốc Sở Xây Dựng Vĩnh Phúc
cho biết, cái tên Tam Đảo 2 không có tên trong bản đồ hành chính và bản đồ
nhưng lại có từ rất lâu. Có lẽ do người Pháp trước đây xây dựng Tam Đảo 1
với mục đích nhà nghỉ cho người Pháp với quy mô nhỏ, không có công trình
vui chơi giải trí, sau đó, người Pháp thấy có thể phát triển thành nơi nghỉ
dưỡng cao cấp hơn nên tìm khu mới là Tam Đảo 2.
UBND tỉnh Vĩnh Phúc dự kiến sẽ sử dụng gần 200ha đất tại vùng lõi
VQG Tam Đảo để xây dựng Khu du du lịch sinh thái (thực chất đây là một
khu nghỉ cao cấp có khu villa, sân gold, sòng bạc…).
Vĩnh Phúc dự kiến thực hiện xây dựng Tam Đảo 2 vì ba lý do: Xuất
phát từ ý tưởng người Pháp đã làm, có cơ sở hạ tầng đường sá, có lợi thế về
12
độ cao, khí hậu, mặt bằng, phong cảnh phục vụ cho phát triển du lịch; tiếp đó,
Vĩnh Phúc nằm trong chiến lược phát triển du lịch cả nước trong đó có Tam
Đảo.
Lý do cuối cùng được nêu ra là, trong Quy hoạch phát triển du lịch
cũng như Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội và phát triển đô thị của Vĩnh
Phúc từ 2010-2020 và trong Nghị quyết của tỉnh cũng nêu vấn đề phát triển
du lịch thành kinh tế mũi nhọn và tập trung nghiên cứu khai thác Tam Đảo,
dãy Tam Đảo có thể phát triển du lịch sinh thái, trong đó có Tam Đảo 1 và
Tam Đảo 2.
Trước ý tưởng đó, Công ty Belt Collin Hawaii Ltd và Công ty Vietnam
Patrers LLC (Hoa Kỳ) đã đưa ra 3 phương án xây dựng Tam Đảo 2. Cụ thể,
phương án 1 tập trung phát triển phần lớn cho khu vực lòng chảo hoặc thung
lũng ở phía trên các khu đất. Phương án này duy trì vùng đất ướt và vùng đệm
như là công viên thiên nhiên và trở thành không gian mở đặc thù của vùng.
Ở đây sẽ có một trung tâm môi trường gồm các hạng mục trong nhà và
ngoài trời. Đây không phải là vườn thú, bể cá hay vườn thực vật mà gồm tất
cả các công trình này gộp lại thành một khu nhà tập hợp 3 vùng sinh thái của
miền Bắc Việt Nam (vùng rừng nhiều mưa Tam Đảo, vùng đất nông nghiệp
miền trung du và đồng bằng sông Hồng).
Tại đây cũng sẽ xây khu nhà nghỉ cao cấp, Trung tâm Hội nghị và sòng
bạc (nếu được cho phép) công trình gồm 200-400 phòng sẽ được bố trí tuỳ
thuộc phương thức khai thác khách sạn, chiều cao và hình khối nhà, chỗ đỗ xe
và các công trình phụ trợ. Đồng thời, xây dựng một sân golf 9 lỗ và các khu
giải trí: công viên thiên nhiên, chuồng ngựa, thuỷ cung, thuỷ viên, vườn thú,
vườn ươm và vườn ươm thực vật
Phương án 2 và phương án 3 hầu như giữ nguyên các hạng mục, chỉ
thay đổi vị trí của khu nghỉ cao cấp, các khu giải trí, sòng bạc chính (nếu được
cho phép).
13
III. Phân tích đánh giá thực trạng phát triển
du lịch Tam Đảo
3.1. Hiệu quả kinh tế.
Tam Đảo được thiên nhiên ban tặng nhiều ưu đãi: có khí hậu ôn hòa,
cảnh quan môi trường tuyệt đẹp, núi non hùng vĩ. Từ lâu Tam Đảo đã là điểm
du lịch lý tường, hấp dẫn nhiều du khách. Biết khai thác những thế mạnh,
tiềm năng sẵn có, người dân ở đây đã và đang tập trung phát triển kinh tế du
lịch, dịch vụ. Để nền kinh tế của thị trấn phát triển theo đúng hướng và có
trọng tâm, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo đã có nghị quyết
chuyên đề hàng năm xác định rõ lấy thương mại – du lịch làm mũi nhọn, tăng
cường xây dựng khu nghỉ mát Tam Đảo. Trên thực tế Tam Đảo vẫn là một
huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu kinh tế, tiềm năng du lịch của huyện rất lớn nhưng việc đầu tư còn
thấp, khai thác chưa có hiệu quả, chất lượng các hoạt động du lịch, dịch vụ
còn thấp và manh mún; cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp kém và còn nhiều bất cập,
tỷ lệ lao động không có việc làm còn cao, mặt bằng dân trí, chất lượng nguồn
nhân lực nhìn chung còn thấp những điều đó đã gây khó khăn cho phát
triển du lịch ở Tam Đảo.
Để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh du lịch của Tam Đảo, góp
phần phát triển ngành du lịch Vĩnh Phúc trong những năm tới, Đảng bộ huyện
Tam Đảo xác định mục tiêu là tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế theo hướng lấy kinh tế du lịch, dịch vụ làm mũi nhọn, làm
động lực phát triển các ngành kinh tế khác. Nhanh chóng khắc phục tình trạng
kinh tế thuần nông, tạo tiền đề cho phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm
2010, Tam Đảo trở thành huyện du lịch trọng điểm, tạo động lực phát triển
kinh tế của tỉnh và khu vực Đây là quan điểm và cách nhìn nhận đúng đắn
mà Đảng bộ huyện Tam Đảo đã xác định. Tam Đảo là một vùng nằm trong
thung lũng của dãy núi Tam Đảo, đường xá đi lại không mấy thuận lợi để có
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét