Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

55 Công tác kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán, Tư vấn, Xây dựng Việt Nam

2.4.4. Quản lý hồ sơ kiểm toán 56
2.4.5. Theo dõi các vấn đề sau khi phát hành báo cáo kiểm toán chính thức 57
Ch ơng 3: Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện tổ chức
công tác kiểm toán tại Công ty 58
3.1. Tính cấp thiết của việc hoàn thiện quy trình
kiểm toán tại Công ty 58
3.1.1. Ưu điểm 58
3.1.2. Nhợc điểm 59
3.1.3. Định hớng chiến lợc phát triển của Công ty 61
3.2 Những giải pháp cụ thể cho những vấn đề trên 62
Kết luận 64
5
Ch ơng 1 : Lý luận chung về quy trình thực hiện
kiểm toán báo cáo tài chính
1.1. Khái quát về kiểm toán Báo cáo tài chính và quy
trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán là một hoạt động đã có từ rất lâu và hoạt động này phát triển ở
Bắc Mỹ từ những năm 30, ở Tây Âu từ những năm 60 và ở Việt Nam từ hơn 10
năm nay. Do hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, và địa vị pháp lý khác nhau ở
mỗi khu vực, mỗi quốc gia nên có nhiều khái niệm khác nhau về kiểm toán.
Tuy nhiên hiểu một cách chung nhất thì kiểm toán là hoạt động xác minh và
bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính bằng hệ thống phơng pháp kỹ
thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có
trình độ nghiệp vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu
lực.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200, điểm 04: Báo cáo tài
chính là hệ thống báo cáo đợc thành lập theo Chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành (hoặc đợc chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ
yếu của đơn vị.
Nh vậy kiểm toán báo cáo tài chính là một bộ phận của kiểm toán nói
chung, có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến của kiểm toán viên về các Báo
cáo tài chính có đợc trình bày hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình
tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh hoặc những thay đổi của tình hình tài
chính theo những nguyên tắc kế toán đợc chấp nhận hay không.
Khái niệm trên bao hàm các yếu tố bản chất sau:
- Chức năng của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến.
- Đối tợng trực tiếp của kiểm toán là các Bảng khai tài chính của doanh
nghiệp, tổ chức, bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết qủa kinh doanh,
Báo cáo lu chuyển tiền tệ, Bảng thuyết minh Báo cáo tài chính.
- Khách thể kiểm toán là một doanh nghiệp hay một tổ chức.
6
- Ngời thực hiện kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập có trình độ t-
ơng xứng.
- Chuẩn mực kiểm toán là khuôn mẫu nghề nghiệp chi phối, điều chỉnh,
hớng dẫn các kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán; đồng thời là cơ sở để đo
lờng, đánh giá và kiểm soát chất lợng công việc của kiểm toán viên cũng nh
các tổ chức kiểm toán.
- Kết quả kiểm toán thờng đợc trình bày dới dạng báo cáo, trong đó
chúng thông tin cho ngời sử dụng một mức tin cậy nhất định giữa thông tin đợc
lợng hoá trong báo cáo tài chính và chuẩn mực đã đợc thiết lập.
1.1.2. Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính:
Quy trình kiểm toán là trình tự, thủ tục tiến hành các công việc đối với
mỗi cuộc kiểm toán. Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của
từng cuộc kiểm toán cũng nh để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có
giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý
của số liệu trên Báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thờng đợc tiến hành theo quy
trình gồm ba giai đoạn nh sau: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm
toán, kết thúc kiểm toán.
Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính.
1.2. Chuẩn bị kiểm toán:
Đây là giai đoạn đầu tiên trong một quy trình kiểm toán, có ý nghĩa rất
quan trọng đối với các giai đoạn tiếp theo của cuộc kiểm toán. Mục đích chủ
yếu của giai đoạn này là lập kế hoạch tổng quát và thiết kế chơng trình kiểm
7
Giai đoạn 1: Chuẩn bị kiểm toán
Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm toán
Giai đoạn 3: Kết thúc kiểm toán
toán phù hợp, khoa học và hiệu quả. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế cũng
nh Việt Nam số 300, Kiểm toán viên cần phải lập kế hoạch kiểm toán để có
thể đảm bảo rằng công tác kiểm toán sẽ đợc tiến hành một cách có hiệu quả
và đúng với thời hạn dự kiến. Vấn đề hiệu quả ở đây không chỉ hớng tới kết
quả cuối cùng là đa ra đợc ý kiến đánh giá đúng đắn về Báo cáo tài chính mà
còn là sự cân đối với chi phí kiểm toán. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán, kiểm
toán viên có thể giám sát, đo lờng chất lợng kiểm toán, rút ra kinh nghiệm sau
từng cuộc kiểm toán. Mặt khác, lập kế hoạch kiểm toán còn giúp cho các kiểm
toán viên phối hợp đợc với nhau, xác định trọng tâm công việc, đảm bảo đúng
tiến độ và chất lợng công việc.
Công tác chuẩn bị kiểm toán thờng đợc chia làm hai bớc là lập kế hoạch
tổng quát và thiết kế chơng trình kiểm toán.
1.2.1. Lập kế hoạch tổng quát
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế hoạch kiểm toán
phải đợc lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh
trọng yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và
cuộc kiểm toán đợc hoàn thành đúng hạn. Do đó việc lập kế hoạch tổng quát
thờng đợc tiến hành theo các bớc sau:
Sơ đồ 2: Các bớc lập kế hoạch tổng quát.
Bước 1: Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán.
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở.
Bước 3: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách
Bước 4: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán.
Bước 5: Tìm hiểu HT KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát.
8
1.2.1.1. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán.
Quy trình kiểm toán đợc bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán
thu nhận một khách hàng. Quá trình chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán gồm các
công việc: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm
toán của khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện và ký hợp đồng
kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán.
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới
hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có tăng rủi ro cho hoạt động của
kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toán hay không. Để làm
đợc điều đó kiểm toán viên phải tiến hành xem xét các công việc sau:
+ Xem xét hệ thống kiểm soát chất lợng. Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 220, Kiểm soát chất lợng đối với việc thực hiện một hợp đồng kiểm
toán của một Công ty kiểm toán cho rằng kiểm toán viên phải xem xét hệ thống
kiểm soát chất lợng khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán. Để đa ra quyết
định chấp nhận hay giữ một khách hàng thì công ty kiểm toán phải xem xét tính
độc lập của kiểm toán viên, khả năng phục vụ tốt khách hàng của Công ty kiểm
toán và tính liêm khiết của Ban giám đốc khách hàng.
+ Tính liêm khiết của Ban giám đốc công ty khách hàng : Chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ cho rằng, tính
liêm khiết của Ban Giám đốc khách hàng là bộ phận cấu thành then chốt của
môi trờng kiểm soát, đây là nền tảng cho tất cả các bộ phận khác của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Nếu Ban Giám đốc thiếu liêm chính, kiểm toán viên không
thể dựa vào bất kỳ giải trình nào của Ban Giám đốc cũng nh các sổ sách kế
toán. Bên cạnh đó, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, Gian lận và sai sót,
nhấn mạnh tầm quan trọng về đặc thù của Ban Giám đốc và ảnh hởng của nó tới
môi trờng kiểm soát nh là nhân tố rủi ro ban đầu của việc báo cáo gian lận của
các thông tin tài chính. Ban Giám đốc có thể phản ánh sai các nghiệp vụ hoặc
dấu diếm các thông tin dẫn tới các sai sót trọng yếu trên các Báo cáo tài chính;
và Ban giám đốc lại là chủ thể có trách nhiệm chính trong việc tạo ra môi trờng
kiểm soát vững mạnh. Những nghi ngại về tính liêm khiết của Ban Giám đốc có
9
thể nghiêm trọng tới mức kiểm toán viên từ chối không thể thực hiện đợc cuộc
kiểm toán.
+ Liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm
Đối với khách hàng trớc đây đã đợc kiểm toán bởi một công ty kiểm
toán khác, Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên mới (kiểm toán viên
kế nhiệm) phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ (kiểm toán viên tiền
nhiệm) vì đây là nguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách hàng. Các thông
tin thu thập đợc bao gồm: tính liêm chính của Ban Giám đốc khách hàng, những
bất đồng giữa Ban Giám đốc và kiểm toán viên tiền nhiệm về các nguyên tắc kế
toán, thủ tục kiểm toán hoặc các vấn đề quan trọng khácvà lý do thay đổi
kiểm toán viên của khách hàng. Việc xem xét nghiêm túc các thông tin này có
thể giúp kiểm toán viên kế nhiệm quyết định chấp nhận hay không hợp đồng
sắp tới mà không cần những điều tra đáng kể khác.
Đối với khách hàng trớc đây cha từng đợc kiểm toán thì kiểm toán viên
cần có những cuộc điều tra khác. Nguồn thông tin có thể có từ sách báo, tạp chí
chuyên ngành, thẩm tra các bên liên quan nh ngân hàng, các bên có mối quan
hệ mua bán. Cách này cũng có thể đợc áp dụng khi kiểm toán viên tiền nhiệm
không cung cấp thông tin mong muốn.
Đối với khách hàng cũ, hàng năm kiểm toán viên phải cập nhật các
thông tin về khách hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến kiểm toán
viên phải ngừng cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho họ hay không? Kiểm toán
viên ngừng cung cấp dịch vụ kiểm toán trong trờng hợp hai bên có những mâu
thuẫn về các vấn đề nh: phạm vi thích hợp của cuộc kiểm toán, loại báo cáo
kiểm toán phải công bố Từ những thông tin đó kiểm toán viên cân nhắc khả
năng chấp nhận tiếp tục kiểm toán cho khách hàng.
- Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Đây chính là xác định ngời sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử
dụng của họ. Để biết đợc điều đó, kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp Ban
Giám đốc khách hàng hoặc thu thập thêm trong quá trình thực hiện kiểm toán.
Việc xác định ngới sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của
họ là hai yếu tố chính ảnh hởng đến số lợng bằng chứng kiểm toán cần thu thập
và mức độ chính xác mà của các ý kiến mà kiểm toán viên đa ra. Ví dụ nếu các
10
Báo cáo tài chính đợc sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các
thông tin trên Báo cáo tài chính đòi hỏi càng cao, theo đó số lợng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập cũng nh quy mô và mức độ phức tạp của cuộc kiểm toán
càng tăng.
Vì vậy, thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng, công
ty kiểm toán ớc lợng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ đấy lựa chọn đội
ngũ nhân viên thích hợp.
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán.
Để đảm bảo chất lợng dịch vụ cung cấp, tuỳ thuộc vào quy mô và tính
chất cuộc kiểm toán, ban giám đốc công ty kiểm toán sẽ lựa chọn đội ngũ nhân
viên thích hợp. Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho cuộc kiểm toán
không những đảm bảo tính hiệu quả công việc mà còn tuân thủ các Chuẩn mực
kiểm toán chung đợc thừa nhận.
Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên, công ty kiểm toán thờng chú
ý ba vấn đề sau:
+ Đội ngũ kiểm toán viên đợc lựa chọn phải có kinh nghiệm và kiến thức
về ngành nghề kinh doanh của khách hàng.
+ Hạn chế thay đổi kiểm toán viên đối với những hợp đồng kiểm toán
nhiều nămvì họ là những ngời nắm đợc những nét đặc thù trong hoạt động kinh
doanh của khách hàng.
+ Nhóm kiểm toán phải có những ngời có khả năng giám sát các nhân
viên mới, cha có kinh nghiệm.
- Hợp đồng kiểm toán.
Bớc cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán mà công
ty kiểm toán phải thực hiện sau khi chấp nhận kiểm toán cho khách hàng là ký
hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng kiểm toán là sự thoả hiệp giữa khách hàng và
công ty kiểm toán về việc thực hiện cuộc kiểm toán và các vấn đề có liên quan
khác.
Hình thức và nội dung của hợp đồng có thể thay đổi tuỳ thuộc vào khách
hàng nhng nói chung có các nội dung chủ yếu sau:
+ Các thông tin liên quan đến hai bên ký hợp đồng nh tên công ty, địa chỉ
giao dịch, họ tên ngời đại diện,
11
+ Mục đích và phạm vi kiểm toán, trong kiểm toán Báo cáo tài chính
mục đích thờng xác định tính trung thực và hợp lý các thông tin trên Báo cáo tài
chính; phạm vi kiểm toán thờng là toàn bộ Báo cáo tài chính của một năm tài
chính.
+ Trách nhiệm của mỗi bên tham gia hợp đồng, khách hàng có trách
nhiệm lập và trình bày trung thực các thông tin trên Báo cáo tài chính, đồng thời
cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan phục vụ công tác kiểm toán, các
kiểm toán viên có trách nhiệm đa ra ý kiến độc lập về báo cáo tài chính dựa trên
kết quả cuộc kiểm toán.
+ Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: kết quả kiểm toán thờng đợc
trình bày dới dạng một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một th quản lý trong
đó nêu rõ những khuyết điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc những gợi ý
sửa chữa những khuyết điểm này
+ Thời gian thực hiện cuộc kiểm toán bao gồm thời gian kiểm toán chính
thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán.
+ Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
Việc hiểu rõ nội dung của hợp đồng kiểm toán góp phần hạn chế những
bất đồng phát sinh giữa khách hàng và công ty kiểm toán và đó cũng là cơ sở
pháp lý để kiểm toán viên thực hiện các bớc tiếp theo của cuộc kiểm toán. Công
ty kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của công ty khách hàng sau
khi ký hợp đồng kiểm toán.

1.2.1.2 Thu thập thông tin cơ sở.
Việc am hiểu về công việc kinh doanh, ngành kinh doanh và các mặt
hoạt động của khách hàng là cần thiết cho việc thực hiện kiểm toán một cách
hiệu quả. Trong đoạn 2 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 310, Hiểu biết về
tình hình kinh doanh, đã hớng dẫn: để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh
nhằm đánh giá và phân tích các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của
đơn vị đợc kiểm toán mà theo kiểm toán viên có ảnh hởng trọng yếu đến báo
cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm
toán. Phần lớn những thông tin này đợc thu thập ở văn phòng công ty khách
12
hàng, nhất là với một khách hàng mới . Để thu thập đợc thông tin cơ sở, kiểm
toán viên thờng thực hiện các công việc sau:
- Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng.
- Tham quan nhà xởng.
- Nhận diện các bên hữu quan.
- Xem xét lại kết quả kiểm toán trớc và hồ sơ kiểm toán chung.
- Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài.
1.2.1.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
Việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho
kiểm toán viên nắm bắt đợc các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hởng đến
các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng, đồng thời kiểm toán viên sẽ có
thêm khả năng thuyết minh bằng chứng liên quan trong suốt hợp đồng.
Những thông tin này đợc thu thập qua tiếp xúc với Ban Giám đốc công ty
khách hàng, bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty.
- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của
năm hiện hành hay trong vài năm trớc.
- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng.
1.2.1.4 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán.
Nếu ở các bớc trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập các thông tin mang
tính khách quan về khách hàng thì ở bớc này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các
thông tin dã thu thập đợc để đánh giá, nhận xét nhằm đa ra một kế hoạch kiểm
toán phù hợp.
- Đánh giá tính trọng yếu.
Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai
phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ hoặc là từmg
nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì
không thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá
mức độ trọng yếu để ớc tính mức độ sai sót của báo cáo tài chính có thể chấp
nhận đợc, qua đó quyết định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các khảo
13
sát kiểm toán. Để làm đợc việc này, kiểm toán viên cần phải đánh giá mức độ
trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính và phân bổ mức đánh giá đó cho từng
khoản mục trên báo cáo tài chính.
+ Ước lợng ban đầu về tính trọng yếu.
Mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu là giá trị tối đa mà kiểm toán viên
tin rằng tại mức đó các báo cáo tài chính có thể không đúng nhng vẫn cha ảnh
hởng trực tiếp đến các quyết định của những ngời sử dụng thông tin tài chính
hay nói cách khác, đó chính là mức sai sót có thể chấp nhận đợc đối với toàn bộ
báo cáo tài chính.
Ước lợng ban đầu về tính trọng yếu giúp kiểm toán viên lập kế hoạch và
thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp. Cụ thể, nếu kiểm toán viên ớc lợng
mức trọng yếu càng thấp nghĩa là độ chính xác của số liệu trên báo cáo tài
chính càng cao, số lợng bằng chứng phải thu thập càng nhiều và ngợc lại.
+ Phân bổ ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục.
Sau khi có đợc ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài
chính, kiểm toán viên phân bổ mức ớc lợng này cho từng khoản mục trên báo
cáo tài chính và đó chính là sai số có thể chấp nhận đợc đối với từng khoản mục
của báo cáo tài chính. Mục đích của việc phân bổ này là giúp kiểm toán viên
xác định đợc số lợng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng
khoản mục ở mức chi phí thấp nhất mà vẫn đảm bảo đợc tổng hợp các sai sót
nhỏ không vợt quá ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu.
- Đánh giá rủi ro.
Trên cơ sở mức trọng yếu đợc xác định cho toàn báo cáo tài chính và
phân bổ cho tờng khoản mục, kiểm toán viên đánh giá rủi ro xẩy ra sai sót trọng
yếu trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng nh đối với từng khoản mục để phục vụ
cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán. Điều này đợc quy định trong Chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam số 400 nh sau Chuyên gia kiểm toán sẽ phải sử
dụng đến các xét đoán chuyên môn để đánh giá về rủi ro kiểm toán và xác
định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm các rủi ro này xuống một mức độ chấp
nhận đợc
Cũng theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400, Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ, rủi ro kiểm toán mong muốn (AR) là rủi ro do kiểm toán
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét