Có thể xem xét nguồn vốn đầu t nuớc ngoài trên phạm vi rộng
hơn đó là dòng lu chuyển vốn quốc tế (international capital flows). Về
thực chất, các dòng lu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển
giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các
dòng lu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nớc phát triển đổ vào các nớc
đang phát triển thờng đợc các nớc thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm.
Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi hình thức có đặc điểm,
mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau.
Theo tính chất lu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nớc
ngòai chính nh sau:
- Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - official development
finance). Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA
-offical development assistance) và các hình thức viện trợ khác. Trong
đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF;
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại;
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài;
- Nguồn huy động qua thị trờng vốn quốc tế.
Nguồn vốn ODA.
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính
phủ nớc ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nớc đang phát triển.
So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính u đãi cao hơn bất cứ
nguồn vốn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện u đãi về lãi suất, thời
hạn cho vay tơng đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không
hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Mặc dù có tính u đãi cao, song sự u đãi cho loại vốn này thờng
di kèm các điều kiện và ràng buộc tơng đối khắt khe (tính hiệu quả của
dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trờng ). Vì vậy, để nhận đ ợc
loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án
trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viện trợ
có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Điều này có
hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn
cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn đợc
những mục tiêu có tính nguyên tắc.
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
Điều kiện u đẫi dành cho loại vốn này không dễ dàng nh đối với
nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có u điểm rõ ràng là không có
gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối
với nguồn vốn này thờng là tơng đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm
ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nớc
nghèo.
Do đợc đánh giá là mức lãi suất tơng đối cao cũng nh sự thận
trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nớc đi vay, của thị tr-
ờng thế giới và xu hớng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các
ngân hàng thơng mại thờng đợc sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu
xuất khẩu và thờng là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn này có
thể đợc dùng để đầu t phát triển. Tỷ trọng của nó có thể gia tăng nếu
triển vọng tăng trởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trởng
xuất khẩu của nớc đi vay là sáng sủa.
Nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Nguồn đầu t trực tiếp nớc ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn
vốn nớc ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh
nợ cho nớc tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu t, nhà đầu t sẽ
nhận đợc phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu t hoạt động có hiệu
quả. Đầu t trực tiếp nớc ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh
doanh vào nớc nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề
mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công
nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to
lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
tốc độ tăng trởng nhanh ở các nớc nhận đầu t .
Thị trờng vốn quốc tế.
Với xu hớng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các
thị trờng vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa
dạng vế các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lợng vốn lu
chuyển trên phạm vi toàn cầu. Ngay tại nhiều nớc đang phát triển,
dòng vốn đầu t qua thị trờng chứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ.
Mặc dù vào nửa cuối những năm 1990, có sự xuất hiện của một số
cuộc khủng hoảng tài chính nhng đến cuối năm 1999 khối lợng giao
dịch chứng khoán tại các thị trờng mới nổi vẫn đáng kể. Riêng năm
1999, dòng vốn đầu t dới dạng cổ phiếu vào Châu á đã tăng gấp 3 lần
năm 1998, đạt 15 tỷ USD.
3. Bản chất của nguồn vốn đầu t
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu t chính là phần tiết kiệm
hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động đợc để đa vào quá trình tái sản
xuất xã hội. Điều này đợc cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác -
Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
Trong tác phẩm Của cải của dân tộc (1776), Adam Smith,
một đại diện điển hình của trờng phái kinh tế học cổ điển đã cho rằng:
Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra
sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm. Nhng dù có tạo ra bao
nhiêu chăng nữa, nhng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ
tăng lên .
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối
quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề trực
tiếp liên quan đến tích luỹ, C. Mác đã chứng minh rằng: Trong một
nền kinh tế hai khu vực, khu vực I sản xuất t liệu sản xuất và khu vực
II sản xuất t liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều
bao gồm (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là
phần giá trị mới tạo ra. Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở
rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v + m) của
khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực II. Tức là:
(v + m)I > cII
Hay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cI
Điều này có nghĩa rằng, t liệu sản xuất đợc tạo ra ở khu vực I
không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả
hai khu vực) mà còn phải d thừa để đầu t làm tăng quy mô t liệu sản
xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn
giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này đợc
thoả mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần để tái sản xuất mở
rộng. Từ đó quy mô vốn đầu t cũng sẽ gia tăng.
Nh vậy để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng
quy mô đầu t, một mặt phải tăng cờng sản xuất t liệu sản xuất ở khu
vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm t liệu sản xuất ở cả hai khu vực.
Mặt khác phải tăng cờng sản xuất t liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực
hành tiết kiệm t liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực.
Với phân tích nh trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của
C.Mác, con đờng cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở
rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm cả ở trong sản xuất
và tiêu dùng. Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu t tái sản xuất mở
rộng chỉ có thể đợc đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền
kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu t lại tiếp tục đợc các
nhà kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng Lý
thuyết tổng quan về việc làm, lãi suất và tiền tệ của mình, Jonh
Maynard Keynes đã chứng minh đợc rằng: Đầu t chính bằng phần thu
nhập mà không đợc chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra
rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng.
Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu t
Tiết kiệm = Thu nhập Tiêu dùng
Nh vậy:
Đầu t = Tiết kiệm
(I) (S)
Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu t xuất phát từ
tính song phơng của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên
kia là ngời tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh
thu từ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhng toàn
bộ sản phẩm sản xuất ra phải đợc bán cho ngời tiêu dùng hoặc cho các
nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu t hiện hành chính bằng phần tăng
thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi
ra của thu nhập so với tiêu dùng mà ngời ta gọi là tiết kiệm không thể
khác vơí phần gia tăng năng lực sản xuất mà ngời ta gọi là đầu t.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt đợc trong nền kinh tế
đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của
khu vực t nhân và tiết kiệm của chính phủ. Điểm cần lu ý là tiết kiệm
và đầu t xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thiết đợc
tiến hành bởi cùng một cá nhân hay doanh nghiệp nào. Có thể có cá
nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhng không
trực tiếp tham gia đầu t. Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh
nghiệp lại thực hiện đầu t khi cha hoặc tích luỹ cha đầy đủ. Khi đó thị
trờng vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết nguồn vốn
từ nguồn d thừa hoặc tạm thời d thừa sang cho ngời có nhu cầu sử
dụng. Ví dụ, nhà đầu t có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu (trên cơ sở
một số điều kiện nhất định, theo quy trình nhất định) để huy động vốn
thực hiện một dự án nào đó từ các doanh nghiệp và các hộ gia đình -
ngời có vốn d thừa.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu t bằng tiết kiệm của nền
kinh tế không phải bao giờ cũng đợc thiết lập. Phần tích luỹ của nền
kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu t tại nớc sở tại, khi đó vốn có thể đ-
ợc chuyển sang cho nớc khác để thực hiện đầu t. Ngợc lại, vốn tích luỹ
của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu t, khi đó nền kinh tế phải
huy động tiết kiệm từ nớc ngoài. Trong trờng hợp này, mức chênh lệch
giữa tiết kiệm và đầu t đợc thể hiện trên tài khoản vãng lai.
CA = S I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Nh vậy, trong nền kinh tế mở nếu nh nhu cầu đầu t lớn hơn tích
luỹ nội bộ nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy
động vốn đầu t từ nớc ngoài. Khi đó đầu t nớc ngoài hoặc vay nợ có
thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu t quan trọng của nền
kinh tế. Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu t trong nớc
trong điều kiện thặng d tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu t
vốn ra nớc ngoài hoặc cho nớc ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của nền kinh tế.
II. vai trò của nguồn vốn đầu t trong việc thúc đẩy
tăng trởng và phát triển kinh tế
1. Khái niệm tăng trởng và phát triển
Tăng trởng kinh tế thờng đợc quan niệm là sự tăng thêm (hay
gia tăng) về quy mô sản lợng của nền kinh tế trong một thời kỳ
nhất định
Phát triển kinh tế có thể hiều là một quá trình lớn lên (hay tăng
tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lựơng (tăng
trởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
2. Vai trò của vốn đầu t tới tăng trởng và phát triển kinh
tế
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trởng và phát triển ở mọi quốc gia.
Riêng đối với các nớc kém phát triển, để đạt đợc tốc độ tăng trởng cao và ổn
định, cần phải có một khối lợng vốn rất lớn. Điều này càng đợc khẳng định
chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của vốn đầu t với tăng trởng và phát triển
của mọi đất nớc.
3.1 Vai trò của vốn trong nớc
Theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò
quyết định chi phối mọi hoạt động đầu t phát triển trong nớc . Trong lịch sử
phát triển các nớc và trênphơng diện lý luận chung, bất kỳ nớc nào cũng phải
sử dụng lực lợng nội bộ là chính . Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm
thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu t trong nớc có hiệu quả mới nâng
cao đợc vai trò của nó và thực hiện đợc các mục tiêu quan trọng đề ra của
quốc gia.
3.1.1. Vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc (NSNN)
Đầu t từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lợng
đầu t
Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trờng đầu t thuận lợi
nhằm đẩy mạnh đầu t của mội thành phần kinh tế theo định hớng chung của
kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất
của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định
hớng của chiến lợc và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội .
Với vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trởng, ổn định điều điều tiết vĩ
mô, vốn t NSNN đã đợc nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan
niệm của mỗi quốc gia. Trong thực tế điều hành chính sách tài khoá, Nhà nớc
có thể quyết định tăng, giảm thuế, quy mô thu chi ngân sách nhắm tác động
vào nền kinh tế. Tất cả những điều đó thể hiện vai trò quan trọng của NSNN
với t cách là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất hữu hiệu nhất, là công cụ
bù đắp những khiếm khuyết của thị trờng, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ
môi trờng sinh thái
3.1.2 Vốn đầu t từ các doanh nghiệp
Đây là nguồn vốn có sự phát triển và đổi thay khá mạnh khi nền kinh
tế có sự chuyển biến. Các doanh nghiệp luôn là lực lợng đi đầu trong việc
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nêu gơng về năng suất, chất lợng, hiệu
quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. Nên nguồn vốn xuất phát từ nó có
vai trò hữu hiệu hỗ trợ cho sự định hớng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
3.1.3 Vốn đầu t của nhân dân
Nguồn vốn tiết kiệm của dân c phụ thuộc rất lớn vào thu nhập và chi
tiêu của các hộ gia đình. Đây là một lợng vốn lớn. Nhờ có lợng vốn này mà
đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn trong các doanh nghiệp, nó cũng
giải quyết đợc một phần lớn công ăn việc làm cho lao dộng nhàn rỗi trong
khu vực nông thôn từ đó thúc đẩy quá trình tăng trởng kinh tế, nâng cao đời
sống nhân dân.
Nh vậy vốn đầu t trong nớc là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trởng
kinh tế một cách liên tục, đa đất nớc đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và
lâu bền. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng
tích luỹ thấp thì việc tăng cờng huy động các nguồn vốn nớc ngoài để bổ
sung có ý nghĩa rất quan trọng.
3.2 Vai trò của vốn nớc ngoài
Nếu nh vốn trong nớc là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò chủ
yếu thì vốn nớc ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bớc đi ban
đầu tạo ra cú hích cho sự phát triển. Điều này đợc thể nghiệm trên các vai
trò cơ bản sau:
Một là: Bổ sung nguồn vốn cho đàu t khi mà tích luỹ nội bộ nền kinh
tế còn thấp. Đối với các nớc nghèo và kém phát triển, nguồn vốn trong nớc
huy động đợc chỉ đáp ứng hơn 50% tổng số vốn yêu cầu. Vì thế gần 50% số
vốn còn lại phải đợc huy động từ bên ngoài. Đó là lý do chúng ta phải tích
cực thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài ( bao gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức
- ODA, đầu t trực tiếp nớc ngoài - FDI )
Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển
chung trên toàn thế giới. Điều này giúp đẩy nhanh sự phát triển của các dịch
vụ cung cấp có chất lợng và cho phép sản xuất các sản phẩm đáp ứng tiêu
chuẩn quốc tế - là cơ sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trong nớc trên thị trơng quốc tế.
Ba là: Con đờng ngắn nhất đa nền kinh tế nớc ta hội nhập vào nền
kinh tế thế giới và khu vực, cũng nh bảo đảm các nghĩa vụ vay và trả nợ nhờ
vào việc tăng cờng đợc năng lực xuất khẩu.
Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc nâng caô chất lợng nguồn nhân
lực và chuyển giao công nghệ .
Đi sâu tìm hiểu ta có thể nhận rõ vai trò cụ thể của từng loại vốn nớc
ngoài.
3.2.1 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA)
Đây là nguồn vốn đầu t nớc ngoài tuy không quan trọng nh nguồn
FDI song cũng đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề .Chủ yếu là cùng với FDI
bổ sung cho vốn đầu t phát triển.
Ngoài ra ODA còn có vai trò quan trọng trong việc giúp các nớc nghèo
tiếp thu những thành tựu khoa học,công nghệ hiện đại và phát triển nguồn
nhân lực.
Và cuối cùng ODA giúp các nớc đang phát triển điều chỉnh cơ cấu
kinh tế và tạo điều kiện để mở rộng đầu t phát triển trong nớc ở các nớc đang
và chậm phát triển.
3.2.2 Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn huy động từ nớc
ngoài. Không chỉ có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội, mà
biểu hiện cụ thể thông qua ba tiêu chí:
- Kích thích công ty khác tham gia đầu t
- Góp phần thu hút viện trợ phát triển chính thức
- Gia tăng tốc độ tăng trởng kinh tế, do đó tăng thêm tỷ lệ huy động
vốn trong nớc.
Ngoài ra FDI còn góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao
trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và tăng trởng
kinh tế.
FDI còn có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết việc làm và
quan trọng hơn cả là đào tạo và nâng cao chất lợng nguồn nhân lực. Số lợng
lao động có việc làm và chuyên môn cao ở trong nớc ngày càng tăng, và điều
cơ bản mà FDI đã làm đợc đó là không chỉ nâng cao tay nghề mà còn thay
đổi t duy và phong cách lao động theo kiểu công nghiệp hiện đại, là lực lợng
tiếp thu chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ .
Từ đó mà hiệu quả làm việc và năng suất lao động cũng tăng nên thể
hiện qua thị trờng quốc tế đẫ chấp nhận sản phẩm của các nớc kém phát triển
này. Chính vì vậy mà FDI còn có vai trò mở rộng thị trờng trong nớc và nớc
ngoài.
Cuối cùng, vai trò của FDI thể hiện qua việc lành mạnh hoá các thể
chế kinh tế - tài chính và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô. Để có thể thu hút FDI,
chúng ta phải đứng trớc yêu cầu cấp thiết cải tạo và hoàn thiện hệ thống
chính sách, pháp luật nhằm xây dựng môi trờng đầu t hấp dẫn. Có nh thế
chúng ta mới lọt vào tầm ngắm của các nhà đầu t nớc ngoài.
III. Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của một nớc đang phát triển do
mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích luỹ là rất khiêm tốn. Nhng
giai đoạn này lại cần một khoản vốn lớn để đầu t nhằm hoàn chỉnh hệ thống
cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế
lâu dài. Trong giai đoạn này thờng tồn tại khoảng cách lớn giữa đầu t với tiết
kiệm, cần nguồn bù đắp. Hơn nữa trong giai đoạn này do nền công nghiệp
của đất nớc cha phát triển nên hàng xuất khẩu nếu có chỉ đa phần là hàng sơ
chế nông sản, nguyên liệu thô có giá trị gia tăng thấp. Ng ợc lại về phía
nhập khẩu do nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập khẩu hàng cao cấp máy
móc thiết bị kĩ thuật công nghệ có giá trị gia tăng cao. Điều đó dẫn đến
cán cân thơng mại, cán cân thanh toán luôn nằm trong tình trạng thâm hụt.
Để giải quyết khó khăn này, nhiều nớc đã tìm đến nguồn vốn đầu t nớc ngoài
nhằm tài trợ cho những thiếu hụt đó.
Mặt khác với các nớc đang phát triển thờng rơi vào vòng luẩn quẩn
Thu nhập bình quân thấp Tiết kiệm, Đầu t thấp
Năng suất thấp Tăng trởng chậm
Để tạo ra sự cất cánh cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản l-
ợng, mức thu nhập ngày càng gia tăng muốn vậy cần phải có vốn đầu t và kĩ
thuật tiên tiến. Và trong lúc nền kinh tế còn đang trong trạng thái tự đảm bảo
một cách khó khăn sự sinh tồn của mình, không thể trông đợi hoàn toàn vào
con đờng thắt l ng buộc bụng tích luỹ nội bộ. Mà không phát triển nhanh
thì nớc đó luôn rơi vào tình trạng rợt đuổi do tụt hậu phát triển. Vốn đầu t nớc
ngoài lúc này là cơ sở để tạo công ăn việc làm cho số lao động thờng là d
thừa, thực hiện phân công lao động mới nhằm mục tiêu nâng cao năng suất
lao động. Đây là tác động kép của vốn đầu t nớc ngoài vừa tạo công ăn việc
làm đồng thời làm gia tăng thu nhập cho ngời lao động và đất nớc. Vốn đầu t
nớc ngoài khuyến khích nhập các công nghệ tiên tiến là cơ sở làm gia tăng
năng suất lao động xã hội, gia tăng sản lợng làm nền kinh tế tăng trởng. Trên
cơ sở đó làm gia tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế: Ngân sách Nhà nớc tăng do
thu thêm thuế lệ phí từ khu vực có vốn đầu t nớc ngoài, tích luỹ dân c tăng do
thu nhập tăng. Nh vậy nếu sử dụng tốt thì vốn đầu t nớc ngoài về ngắn hạn là
đáp ứng vốn đầu t phát triển, về dài hạn góp phần gia tăng nguồn vốn tích luỹ
trong nớc.
Song không phải là lúc nào nguồn vốn nớc ngoài cũng đem lại hiệu
quả nh mong muốn, mà nó cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nớc
ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế nớc ngoài. Vì vậy, vấn đề là
làm thế nào để sử dụng hiệu quả vốn đầu t nớc ngoài? Mà thông thờng để
vốn đầu t nớc ngoài phát huy tác dụng cần có một tỉ lệ vốn đối ứng trong nớc
thích hợp. Nghĩa là muốn tiếp nhận đợc vốn nớc ngoài thì trong nớc cũng
phải chuẩn bị sẵn một số cơ sở nhất định toạ điều kiện cho vốn nớc ngoài
hoạt động hiệu quả. Theo kinh nghiệm của một số nớc nhóm NIC
S
thì giai
đoạn đầu của quá trình phát triển tỉ lệ này thờng thấp 1/1.5 nghĩa là một đồng
vốn nớc ngoài cần 1.5 đồng vốn trong nớc. ở giai đoạn sau khi các chơng
trình đầu t nghiêng về ngành công gnhiệp chế biến có hàm lợng vốn và kĩ
thuật cao thì tỉ lệ này tăng lên 1/2.5. Ngoài ra vốn đầu t trong nớc còn đóng
vai trò định hớng cho dòng đầu t nớc ngoài chảy vào các ngành, các lĩnh vực
cần thiết. Đầu t trong nớc trên cơ sở đầu t ban đầu tạo ra những cơ sỡ hạ tầng
căn bản, đầu ra, đầu vào song lại thiếu máy móc thiết bị và công nghệ hiện
đại để tạo ra sản phẩm đạt chất lợng cao, mang tính cạnh tranh so với quốc tế
để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu.Với cơ sở hạ tầng sẵn có đó thì đầu t nớc
ngoài trở nên an toàn và ít tính rủi ro hơn, bởi vì bản chất của dòng đầu t nớc
ngoài là tìm kiếm nơi có tỉ suất lợi nhuận cao hơn, đem lại nhiều lợi nhuận
hơn sẽ làm đầu t nớc ngoài tập trung nhiều hơn.
Nh vậy vốn trong nớc và vốn nớc ngoài có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Nh Đảng và Nhà nớc ta đã xác định trong giai đoạn đầu của quá trình
công nghiệp hoá vốn nớc ngoài có thể đóng vai trò xung lực tạo sức đột phá
cho bớc nhảy vọt sản lợng, cũng nh những cơ sở vững chắc cho việc đạt mục
tiêu tăng trởng nhanh lâu bền. Song về lâu dài nó không thể đóng vai trò
quyết định so với nguồn lực riêng có của đất nớc.
Chơng II
Thực trạng vốn đầu t trong nớc, nớc ngoài
và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam
Trong hơn một chục năm trở lại đây với việc chuyển sang hệ thống thị
trờng mở của nền kinh tế thị trờng, nền kinh tế nớc ta đã thu đợc nhiều thành
tựu đáng khích lệ.Từ chỗ khủng hoảng thiếu trầm trọng, ngày nay đời sống
nhân dân đã đợc nâng lên một bớc ,đợc đánh giá là một quốc gia an toàn cho
đầu t với tốc độ tang trởng cao trong một thời kì dài, nền chính trị ổn định.
Đạt đợc kết quả đó là nhờ chủ trơng đúng đắn của Đảng và nhà nớc ta trong
việc khơi thông nguồn lực trong nớc tận dụng nguồn lực nớc ngoài.Vốn đầu
t trong nớc và nớc ngoài đã góp phần quan trọng tạo nên tốc độ tăng trởng và
sự phát triển kinh tế nớc ta.Tìm hiêủ về thực trạng hai nguồn vốn trong thời
gian qua sẽ cho chúng ta cách nhìn đúng đắn hơn về vai trò của hai nguồn
vốn cũng nh mối quan hệ giữa chúng.Từ đó ta có thể đa ra các biện pháp về
huy động và sử dụng hai nguồn lực này cho sự phát triển kinh tế nớc ta trong
thời gian tới.
Bảng 1: Cơ cấu các nguồn vốn đầu t phát triển
Năm Tỉ lệ
VĐT/GDP %
Tổng số
%
Khu vực trong nớc
Tổng số KTNN Ngoài QD
Khu
vực có
VĐTNN
Tỉ lệ VĐT
trong nớc/ n-
ớc ngoài
1995 27.1 100 69.6 42 27.6 30.4 2.29
1996 100 74 49.1 24.9 26 2.85
1997 28.3 100 72 49.4 22.6 28 2.57
1998 100 79.3 55.5 23.4 20.7 3.83
1999 19.7 100 82.7 58.7 24 17.3 4.78
2000 32.9 100 81.3 57.5 23.8 18.7 4.35
2001 34 100 81.6 58.1 23.5 18.4 4.43
2002 34.3 100 81.5 56.2 25.3 18.5 4.41
Ước 2003 35.9 100 83.5 56.5 26.7 16.5 5.06
Tổng hợp Thời báo kinh tế Việt Nam
I.Thực trạng về nguồn vốn trong nớc
Để không lệ thuộc nớc ngoài về kinh tế Đảng luôn xác định nhiệm vụ
và giải pháp quan trọng phát triển kinh tế xã hội là huy động tối đa nguồn
lực để phát triển kinh tế xã hội nhất là nội lực, nguồn lực trong dân và tăng
sức thu hút đầu t nớc ngoài, sử dụng có hiệu quả vốn đầu t đặc biệt là vốn đầu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét