Nội dung của luận văn đợc chia làm 3 phần nh sau:
Chơng I : Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ.
Chơng II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu TCMN ở Việt Nam và
công ty ARTEXPORT trong thời gian qua.
Chơng III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị tr-
ờng Nhật Bản.
Trong giới hạn về khả năng cũng nh thời gian em đã rất cố găng để hoàn
thiện đề tài này, tuy nhiên do hạn chế về mặt kiến thức cũng nh nguồn tài liệu
nên bài viết còn nhiều thiếu sót, rất mong đợc sự đóng góp ý kiến để em có thể
nhận thức một cách hoàn thiện hơn. Qua đây em xin chân thành cảm ơn TS.
Ngô Xuân Bình- thây giáo trực tiếp hớng dẫn và thầy cô giáo trong Bộ môn
Kinh tế thơng mại, tập thể phòng Xuất nhập khẩu tổng hợp 9,công ty xuất nhập
khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT cung cấp tài liệu và dành thời gian cũng
nh ý kiến đóng góp để em hoan thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Chơng I
Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ.
1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ .
1.1 Một số khái niệm cơ bản.
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng nh hiện nay đề cho thấy làng
xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng nh đời sống nhân
dân ở nông thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng
phép nớc và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn đợc duy trì đến ngày nay.
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thờng gắn liền với nông
nghiệp và sản xuất nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt
Nam xuất hiện từ thời các vua Hùng dựng nớc, những xóm làn định canh đã
hình thành, dựa trên cơ sở những công xã nông thôn. Mỗi công xã gốm một số
gia đình sống quây quần trong một khu vực địa giới nhất định. Đồng thời là nơi
gắn bó các thành viên với nhau bằng khế ớc sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tín
ngỡng,lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình sản
xuất và đời sống.
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn ngời dân đều làm nông
nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân c sống bằng nghề khác, họ liên kết
chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo
nghề nghiệp, tạo thành các phờng hội: phờng gốm, phờng đúc đồng, phờng dệt
vải từ đó, các nghề đ ợc lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh
những ngời chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm
nghề phụ. Nhng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chuyên môn
sâu hơn và thờng chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ dần dần tách khỏi nông nghiệp
để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ, số
lao động làm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng
nhiều.
Nh vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống
và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc .
Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công
nghiệp ở nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ
và lan ra cả làng. Trải qua một quá trình lâu dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy,
có những nghề đợc gìn giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có
những nghề mới ra đời. Trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh
xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao.
Theo đó ta có thể đa ra một số khái niệm sau:
Làng nghề là một cụm dân c sinh sống trong một thôn( làng) có một
hay một hay một số nghề đợc tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh
độc lập. Thu nhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản
phẩm của toàn làng.
Làng nghề truyền thống
Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức
sau
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở
lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên
50% tổng giá trỉan xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản
sắc dân tộc Việt Nam.
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định đợc truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác.
Từ những tiêu thức trên có thể định nghĩa về làng nghề truyền thống nh
sau: Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ
công truyền thống đợc tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem
lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công đó đ-
ợc truyền từ đời náy sang đời khác, thờng là qua nhiều thê hệ. Cùng với thử
thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một
nghề cổ truyền tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán
chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và
sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành
hàng hoá trên thị trờng.
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã
xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nớc ta còn tồn tại cho đến
ngày nay, bao gôm cả ngành nghề mà phơng pháp sản xuất đợc cải tiến hoặc sử
dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhng vẫn tuân thủ công
nghệ truyền thống.
Nh vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ
nghệ nh sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính
truyền thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lợng cao, vừa là hàng
hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di
sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia
sản xuất ra chúng.
Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:
1. Nhóm sản phẩm từ gỗ( gỗ mỹ nghệ)
2. Nhóm hàng mây tre đan
3. Nhóm sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ
4. Nhóm hàng thêu
1.2 Đặc điểm của hàng TCMN
1.2.1. Tính văn hoá
Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công , lao động
chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của ngời thợ, ngời
nghệ nhân. Sản phẩm làm ra bừa có giá trị sử dụng nhng lại vừa mang dấu ấn
bàn tay tài hoa của ngời thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào
đó.Cũng chính vì vậy mà hàm lợng văn hoá ở các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
đợc đánh giá cao hơn nhiều so với hang công nghiệp sản xuất hàng loạt. Ngay
từ khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ,
thế giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh
sinh động và sâu sắc nền văn hoá, t tởng và xã hội thời đại Hùng Vơng. Cho đến
nay, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm tính văn hoá nh gốm Bát
Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu á, mang đâm nét
văn hoá Việt Nam nh chim lạc, thần kim quy, hoa sen đã đ ợc xuất khẩu rộng
rãi ra khắp thế giới, ngời ta đã có thể tìm hiểu phần nào văn hoá của Việt Nam .
Có thể nói đặc tính này là điềm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng nhất
là khách quốc tế, nó tạo nên một u thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ và
đợc coi nh món quà lu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến du lịch của du khách n-
ớc ngoài. Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam không thể không mang theo về
nớc một món đồ thủ công mỹ nghệ , cho dù ở nớc họ có thể sản xuất ra nhng sẽ
không thể mang hồn bản sắc văn hoá của Việt Nam . Sản phẩm thủ công mỹ
nghệ không chỉ là hàng hoá đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hoá có tính
nghệ thuật cao và đợc coi là biểu tợng của nghề truyền thống của dân tộc Việt
Nam .
1.2.2 Tính mỹ thuật
Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là
một tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ. Nhiều
loịa sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng , vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa
nơi công sở các sản phẩm đều là sự kết giao giữa ph ơng pháp thủ công tinh
xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Khác với các sản phẩm công nghiệp đợc sản
xuất hàng loạt bằng máy móc, hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị cao ở phơng
diện nghệ thuật sáng tạo thì chỉ đợc sản xuất bằng công nghệ mang tính thủ
công, chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo của ngời thợ. Chính đặc điểm này
đã đem lại sự quý hiếm cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Nhờ đó, tai các
hội chợ quốc tế nh EXPO, hội chợ ở NEW YORK , Milan( ý) hang thủ công
mỹ nghệ đã gây đợc sự chú ý của khách háng nớc ngoài bởi sự tinh xảo trong
các đờng nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm , hay những kiể u dáng mẫu
mã độc đáo, mặc dù nguyên liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá, xơ
dừa qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ
thuật có giá trị cao.
1.2.3 Tính đơn chiếc
Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc
thái riêng của mỗi làng nghề. Cùng là đồ gốm sứ, nhng ngời ta vẫn có thể phân
biệt đợc đâu là gốm Bát Tràng, Thồ hà, Hơng Canh nhờ các hoa văn, màu
men, hoạ tiết trên đó. Bên cạnh đó, tính đơn chiếc có đợc là do hàng thủ công
mỹ nghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hoá và bản
sắc của dân tộc Việt Nam , chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bản
cho dù có phong phú hay đa dạng đến đâu cũng không thể có đợc những nét
đặc trng đó,cho dù kiểu dáng có thể giống nhng không thể mang hồn của dân
tộc Việt Nam . Cùng với đặc trng về văn hoá, tính riêng biệt đã mang lại u thế
tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong xuất khẩu . Đối với
Việt Nam và cả khách hàng nớc ngoài, nó không những có giá trị sử dụng mà
còn thúc đẩy quá trình giao lu văn hoá giữa các dân tộc.
1.2.4 Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phơng thức ,
nguyên liệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm. Nguyên
liệu làm nên sản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ dừa mỗi loại sẽ
tạo nên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho ng-
ời sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Là một đôi dép đi trong
nhà, nhng dép làm bằng cói đã quá cũ đối với ngời tiêu dùng nên hiện nay, các
nghệ nhân sử dụng chất liệu dây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa có màu
vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc tự nhiên của thân chuối Bên cạnh đó,
tính đa dạng còn đợc thể hiện qua những nét văn hoá trên sản phẩm thủ công
mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đêù mang những nét văn hoá
đặc trng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra chúng. Chính vì vậy trên thị tr-
ờng có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mỗi loại đều có sự khác biệt
rõ rệt, không đồng nhất. Cũng là đồ gốm sứ nhng ngời ta vẫn có thể thấy đâu là
gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc
1.2.5 Tính thủ công
Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công
mỹ nghệ. Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều
là sự kết giao giữa phơng pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật. Chính
đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và những
sản phẩm công nghiệp hiện đại đợc sản xuất hàng loạt và ngày nay,cho dù
không sánh kịp tính ích dụng của các sản phẩm này nhng sản phẩm thủ công
mỹ nghệ luôn gây đợc sự yêu thích của ngời tiêu dùng.
1.3 Xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ
1.3.1 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể sử
dụng vừa có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng có
thể là đồ lu niệm hấp dẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế. Chính vì
vậy, hàng thủ công mỹ nghệ có thể đợc xuất khẩu ra nớc ngoài theo 2 phơng
thức sau:
- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nớc ngoài vào Việt Nam và
mua hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam. Với xu hớng phát triển của
du lịch nh hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim
ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm.
- Xuất khẩu ra nớc ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ
công mỹ nghệ cho các đối tác nớc ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi
băng các phơng tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủ
tục xuất khẩu nhất định.
1.3.2 Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
1.3.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
* Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá-
hiện đại hoá đất nớc.
Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nớc ta trong mấy năm gần
đây đã mang lại cho nớc ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sự phát
triển của nền kinh tế quốc dân. Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất khẩu
đợc gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng thủ công
mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái. Đây là nguồn
thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nớc từ nguồn nguyên liệu rẻ tiền có sẵn
trong tự nhiên và từ lực lợng lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn nớc ta.
Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiện
đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công
mỹ nghệ.
* Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hớng hiện đại hoá
Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên
một bớc về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất , cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm
, cơ cấu giá trị sản lợng và cơ cấu thu nhập cua ra dân c nông thôn bằng các
nguồn lợi thu đợc từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp. Với
mục tiêu nh vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng đợc
thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành công nghiệp và cả các bộ phận
hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn. Việc phát triển các làng nghề
truyền thống dẫ có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp,
chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nông
nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh
tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có
các ngành thủ công nghiệp, thơng mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập va
giá trị sản lợng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bớc tiếp cận
với nền kinh tế thị trờng, năng lực thị trờng đợc nâng lên ngời lao động nhanh
chóng chuyển sang đầu t cho các ngành nghề phi nông nghiệp, dặc biệt là
những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trờng trong nớc và ngoài nớc.
Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu vực sản xuất công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đợc tăng lên.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở
nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản
xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi
sự cung cấp thờng xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm . Do
đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và
phong phú , đem lại thu nhập cao cho ngời lao động.
Nh vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống
đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động. Cho
đếnnay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch
vụ, 20-40% cho nông nghiệp.
* Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.
Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất
nhiều mặt. Trớc hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều công
đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập
không thấp tăng gía trị lao động tăng thu nhập quốc dân. Bên cạnh đó, xuất
khẩu thủ công mỹ nghệ còn tạo nguồn để nhập nguồn vật phẩm tiêu dùng thiết
yếu, phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của
nhân dân và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngời lao động .
- Tạo việc làm cho ngời lao động.
Trên phơng diện xã hội đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đã kích
thích việc phát triển các làng nghề truyền thống. Hiện nay trong các làng nghề
truyền thống bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27
lao động thờng xuyên và 8 đến 10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên nghề tạo
việc làm cho 4 đến 6 lao động thờng xuyên và 2 đến 5 lao động thời vụ. Đặc
biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 đến 250 lao
động.
Nhiều làng nghề không những thu hút lực lợng lao động lớn ở địa phơng
mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phơng khác. Làng gốm bát
tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của xã, còn giải
quyết thêm việc làm cho khoảng 5500 đến 6000 lao động của các khu vực lân
cận đến làm thuê.
Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sự
phát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan
xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Ngoài các hoạt
động dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác nh dịch vụ tín
dụng ngân hàng.
Từ kinh nghiệm thực tiễn đã tính toán cho thấy cứ xuất khẩu 1 triệu USD
hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo đợc việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 đến
4000 lao động chủ yếu là lao động tại các làng nghề nông thôn, trong đó có lao
đông nông nhàn tại chỗ và các vùng lân cận( trong khi đó chế biến hạt điều thì
1 triệu USD kim ngạch xuất khẩu chỉ thu hút đợc 400 lao động).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét